Ngân hàng Nhà nước chủ động điều tiết nguồn vốn, tạo dư địa giảm lãi suất

Ngân hàng Nhà nước đang điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, hỗ trợ thanh khoản, giảm áp lực chi phí vốn cho các ngân hàng, qua đó tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay. Trao đổi với Thời báo Ngân hàng, PGS.TS. Nguyễn Văn Phương, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng đây là một điều tích cực trong điều hành tuy nhiên sự linh hoạt trong điều hành cần gắn với ổn định vĩ mô để hỗ trợ tăng trưởng bền vững.

Thưa ông, việc NHNN triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ với đồng Việt Nam kỳ hạn 6 tháng cho thấy sự chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ như thế nào? Công cụ này hỗ trợ ngân hàng cân đối nguồn vốn và tạo dư địa giảm lãi suất cho vay ra sao?

Theo tôi, điểm đáng chú ý là NHNN chủ động hỗ trợ cả quy mô lẫn kỳ hạn nguồn vốn. Về cơ chế, NHNN mua USD giao ngay từ ngân hàng và đồng thời cam kết bán lại USD khi đáo hạn theo tỷ giá thỏa thuận. Ngân hàng nhận được VND để cân đối nguồn vốn trong thời gian xác định, thay vì phải liên tục tìm kiếm vốn ngắn hạn.

Theo phương án công bố, quy mô tối đa là 2 tỷ USD, tương ứng gần 48.800 tỷ đồng; lượng cung ứng thực tế còn phụ thuộc kết quả giao dịch. Ý nghĩa của công cụ này nằm ở việc giảm bất định về nguồn vốn. Khi có thêm VND với kỳ hạn dài hơn, ngân hàng bớt áp lực huy động bằng mọi giá, giảm phụ thuộc vào vay mượn ngắn hạn và chủ động hơn trong kế hoạch kinh doanh. Đó là một điều kiện để giảm chi phí vốn, từ đó hỗ trợ hạ lãi suất cho vay.

PGS.TS. Nguyễn Văn Phương, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

PGS.TS. Nguyễn Văn Phương, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tuy nhiên, hoán đổi không phải nguồn vốn miễn phí, cũng không tạo thêm vốn tự có cho ngân hàng. Đến hạn, giao dịch đảo chiều và ngân hàng phải chuẩn bị VND để mua lại USD. Vì vậy, đây là công cụ hỗ trợ thanh khoản, không phải giải pháp thay thế huy động vốn bền vững hay xử lý thiếu hụt vốn dài hạn. Hiệu quả giảm lãi suất còn tùy thuộc chi phí giao dịch, cơ cấu nguồn vốn và chất lượng tài sản của từng ngân hàng.

Trong bối cảnh nền kinh tế cần nguồn vốn lớn để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, theo ông, NHNN cần phối hợp các công cụ lãi suất, tỷ giá và điều tiết thanh khoản như thế nào để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng?

Tôi cho rằng cần hỗ trợ tăng trưởng trên nền tảng ổn định, thay vì xem ổn định và tăng trưởng là hai mục tiêu đối lập. Doanh nghiệp cần vốn có chi phí hợp lý, nhưng cũng cần tỷ giá tương đối ổn định, lạm phát được kiểm soát và hệ thống ngân hàng đủ sức cung ứng vốn liên tục.

Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt góp phần tạo dư địa giảm lãi suất

Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt góp phần tạo dư địa giảm lãi suất

Trước hết, điều tiết thanh khoản phải đúng thời điểm, đúng kỳ hạn và sát nhu cầu thực tế. Nghiệp vụ thị trường mở có thể xử lý biến động ngắn hạn; hoán đổi ngoại tệ bổ sung một kênh nguồn vốn khác. Khi điều kiện thay đổi, NHNN cũng cần chủ động thu hồi phần thanh khoản dư thừa. Chính định hướng phối hợp thị trường mở, tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ đã được NHNN nêu tại họp báo Chính phủ ngày 4/11.

Thứ hai, giảm lãi suất phải đặt trong quan hệ với tỷ giá. Nếu chi phí nắm giữ VND giảm quá nhanh trong khi áp lực ngoại tệ còn lớn, mục tiêu hạ lãi suất có thể gặp phản ứng ngược. Vì vậy, nên điều hành tỷ giá linh hoạt theo cung cầu, hạn chế biến động bất thường, không cố bảo vệ một mức tỷ giá bằng mọi giá. Cũng không nên dùng lãi suất cao kéo dài để giải quyết toàn bộ sức ép ngoại hối.

Thứ ba, cung ứng vốn phải đi cùng giám sát chất lượng tín dụng. Ngân hàng được hỗ trợ thanh khoản vẫn phải đáp ứng yêu cầu về vốn, phân loại nợ, dự phòng và quản trị rủi ro. Không nên biến mục tiêu tăng trưởng cao thành yêu cầu mọi ngân hàng đều phải tăng cho vay bằng mọi cách. Điều quan trọng là đánh giá đồng thời tăng trưởng tín dụng, hiệu quả sử dụng vốn, sức ép giá cả và rủi ro tài sản. Nền kinh tế cần nhiều vốn hơn, nhưng trước hết phải sử dụng mỗi đồng vốn hiệu quả hơn.

Để các giải pháp hỗ trợ thanh khoản và giảm chi phí vốn chuyển hóa thành khả năng tiếp cận tín dụng tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp, theo ông cần tháo gỡ những điểm nghẽn nào? Chính sách tiền tệ cần phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách khác ra sao để dòng vốn đi vào sản xuất, kinh doanh, phát huy hiệu quả đối với tăng trưởng?

Theo tôi, phải phân biệt ngân hàng có tiền để cho vay với doanh nghiệp có đủ điều kiện vay và sử dụng vốn hiệu quả. Hai việc liên quan chặt chẽ nhưng không tự động chuyển hóa thành nhau.

Nhóm vướng mắc đầu tiên cần xử lý là pháp lý của dự án và phương án kinh doanh. Một dự án chưa hoàn tất thủ tục đầu tư, đất đai hoặc xây dựng sẽ khó được tài trợ dù lãi suất giảm. Cơ quan quản lý cần xác định rõ vướng mắc nằm ở quy định nào, trách nhiệm thuộc cơ quan nào và thời hạn giải quyết ra sao.

Tiếp đó là thông tin và khả năng chứng minh dòng tiền. Tôi đề nghị đẩy mạnh kết nối dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử và giao dịch ngân hàng trên cơ sở pháp lý rõ ràng, có sự đồng ý và bảo vệ dữ liệu của khách hàng. Ngân hàng cần nâng năng lực thẩm định dòng tiền, giảm lệ thuộc máy móc vào tài sản thế chấp; doanh nghiệp cũng phải minh bạch sổ sách và phương án trả nợ.

Với doanh nghiệp nhỏ có phương án khả thi nhưng thiếu tài sản bảo đảm, cần nâng hiệu quả bảo lãnh tín dụng và cơ chế chia sẻ rủi ro. Tuy nhiên, hỗ trợ phải có tiêu chí, giới hạn trách nhiệm và giám sát độc lập, không biến bảo lãnh thành bảo đảm cho mọi khoản vay.

Về phối hợp chính sách, tài khóa cần tác động trực tiếp vào đầu ra và dòng tiền: đẩy nhanh giải ngân đầu tư công đi đôi với chất lượng dự án, thanh toán khối lượng đã hoàn thành, giải quyết hoàn thuế đúng quy định và hỗ trợ có mục tiêu. Khi doanh nghiệp có đơn hàng, thu được tiền và giảm bất định pháp lý, khả năng vay vốn sẽ cải thiện thực chất hơn.

Đồng thời, cần phát triển thị trường trái phiếu, vốn cổ phần và các nguồn tài trợ dài hạn. Không thể giao toàn bộ nhu cầu vốn của tăng trưởng hai con số cho hệ thống ngân hàng, nhất là những dự án thu hồi vốn chậm.

Thưa ông, thời gian qua, NHNN liên tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Ông đánh giá như thế nào về nỗ lực này và dư địa tiếp tục giảm lãi suất trong thời gian tới? Những điều kiện nào cần được bảo đảm để mặt bằng lãi suất giảm bền vững, góp phần hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế?

Tôi đánh giá tích cực việc NHNN kết hợp yêu cầu ngân hàng chia sẻ lợi nhuận, tiết giảm chi phí với hỗ trợ nguồn vốn. Giảm lãi suất sẽ có cơ sở hơn khi ngân hàng được tháo gỡ áp lực đầu vào, thay vì chỉ nhận yêu cầu giảm giá đầu ra. Kết quả bước đầu cần được ghi nhận. Theo thông tin công bố ngày 4/11, lãi suất tiền gửi phát sinh mới bình quân cuối tháng 10 giảm khoảng 0,4 điểm phần trăm so với giữa tháng; lãi suất cho vay phát sinh mới bình quân giảm khoảng 0,2–0,5 điểm phần trăm.

Theo tôi, dư địa giảm tiếp vẫn có, nhưng không đồng đều giữa các ngân hàng và nhóm khách hàng. Đơn vị có nguồn tiền gửi ổn định, chi phí vận hành thấp và chất lượng tín dụng tốt thường có điều kiện giảm mạnh hơn. Ngược lại, ngân hàng đang chịu áp lực nguồn vốn hoặc phải tăng dự phòng không thể giảm lãi suất bằng cách làm suy yếu sức chống chịu.

Muốn giảm bền vững, cần giữ ổn định kỳ vọng lạm phát và tỷ giá; bảo đảm cân đối huy động-cho vay; xử lý nợ xấu, giảm chi phí thu hồi nợ; đồng thời nâng hiệu quả vận hành. Cũng phải quan tâm lợi ích người gửi tiền. Giảm lãi suất huy động thiếu cơ sở có thể khiến nguồn vốn kém ổn định, cuối cùng lại làm tăng chi phí huy động.

Thước đo nên là tổng chi phí vay thực tế, gồm lãi suất, phí, điều kiện đi kèm và mức lãi sau ưu đãi. Chính sách thành công khi người vay đủ điều kiện tiếp cận vốn thuận lợi hơn, chi phí giảm thực chất, còn ngân hàng vẫn duy trì được an toàn và năng lực phục vụ nền kinh tế.

Xin cảm ơn ông!

Quỳnh Trang

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/ngan-hang-nha-nuoc-chu-dong-dieu-tiet-nguon-von-tao-du-dia-giam-lai-suat-190267.html