Ngừng việc vẫn phải đóng bảo hiểm thất nghiệp: Làm rõ căn cứ tiền lương, bảo đảm quyền lợi người lao động

Trong bối cảnh doanh nghiệp phải linh hoạt điều chỉnh sản xuất, kinh doanh trước những biến động của thị trường, việc người lao động tạm thời ngừng việc nhưng chưa chấm dứt quan hệ lao động không còn là tình huống cá biệt. Nghị định số 374/2025/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định cụ thể về căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian ngừng việc, góp phần bảo đảm tính liên tục của chính sách an sinh, đồng thời làm rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động. Tuy nhiên, thực tế triển khai còn nhiều vướng mắc.

Ngừng việc không đồng nghĩa với chấm dứt quan hệ lao động

Trong giai đoạn đại dịch COVID-19 và những năm sau đó, nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng, sụt giảm đơn hàng, thiếu nguyên vật liệu và khó khăn kéo dài trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Không ít doanh nghiệp buộc phải thu hẹp quy mô, giãn ca, bố trí người lao động nghỉ luân phiên, tạm ngừng sản xuất, thậm chí đóng cửa một số nhà máy để tập trung nguồn lực duy trì hoạt động tại các cơ sở còn lại.

Thực tế, tình trạng ngừng việc, giãn ca do thiếu đơn hàng hoặc nguyên liệu sản xuất đã được ghi nhận tại nhiều doanh nghiệp trong những năm qua. (Ảnh minh họa: Tạo bởi AI)

Thực tế, tình trạng ngừng việc, giãn ca do thiếu đơn hàng hoặc nguyên liệu sản xuất đã được ghi nhận tại nhiều doanh nghiệp trong những năm qua. (Ảnh minh họa: Tạo bởi AI)

Thực tế này cho thấy, những biến động kinh tế có thể khiến người lao động phải ngừng việc trong khi quan hệ lao động chưa chấm dứt, đặt ra yêu cầu bảo đảm tiền lương, duy trì việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và bảo vệ quyền lợi an sinh trong thời gian sản xuất bị gián đoạn.

Việc xác định tiền lương ngừng việc trước hết phải căn cứ Điều 99 Bộ luật Lao động năm 2019. Theo đó, nếu do lỗi của người sử dụng lao động thì người lao động được trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động;

Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc thì được trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu.

Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế thì hai bên thỏa thuận về tiền lương ngừng việc.

Theo đó, trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu. Trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu.

Vấn đề đặt ra là trong khoảng thời gian này, trách nhiệm đóng BHTN được xác định như thế nào? Liệu việc người lao động không trực tiếp làm việc có đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được tạm dừng đóng BHTN, hay tiền lương đóng bảo hiểm phải tiếp tục được tính theo mức lương ghi trong hợp đồng?

Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật trong quản lý tiền lương, bảo hiểm mà còn liên quan trực tiếp đến quyền lợi an sinh của người lao động, đặc biệt khi tình trạng ngừng việc kéo dài hoặc sau đó dẫn đến chấm dứt hợp đồng lao động.

Luật Việc làm số 74/2025/QH15 đã quy định rõ về căn cứ đóng BHTN đối với người lao động ngừng việc vẫn hưởng lương. Trên cơ sở đó, Nghị định số 374/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ đã hướng dẫn cụ thể việc xác định tiền lương làm căn cứ đóng BHTN trong những trường hợp phát sinh trên thực tế.

Theo điểm d khoản 2 Điều 7 Nghị định 374/2025/NĐ-CP, trường hợp người lao động ngừng việc nhưng vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc thấp nhất theo quy định của Luật BHXH thì tiền lương đóng BHTN được xác định theo tiền lương người lao động được hưởng trong thời gian ngừng việc.

Điểm cốt lõi của quy định là phân biệt giữa tình trạng không trực tiếp thực hiện công việc với việc chấm dứt quan hệ lao động. Người lao động ngừng việc vẫn có thể đang thực hiện hợp đồng lao động, tiếp tục được hưởng tiền lương theo quy định và thuộc diện tham gia BHTN.

Như vậy, pháp luật lao động xác định nghĩa vụ trả lương trong thời gian ngừng việc, còn pháp luật về BHTN xác định căn cứ đóng tương ứng. Hai nhóm quy định có mối liên hệ chặt chẽ nhưng không thể đánh đồng. Tiền lương tối thiểu trong quan hệ lao động cũng cần được phân biệt với mức tiền lương thấp nhất làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc.

Xác định tiền lương đóng BHTN theo thực tế hưởng, tránh khoảng trống an sinh

Một trong những nội dung quan trọng của Nghị định 374/2025/NĐ-CP là cụ thể hóa các thành phần tiền lương làm căn cứ đóng BHTN đối với người lao động hưởng lương do người sử dụng lao động quyết định.

Nếu các tháng ngừng việc với mức lương đóng BHTN thấp hơn nằm trong khoảng thời gian được sử dụng để tính bình quân, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp sau này có thể chịu ảnh hưởng. (Nguồn: VGP)

Nếu các tháng ngừng việc với mức lương đóng BHTN thấp hơn nằm trong khoảng thời gian được sử dụng để tính bình quân, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp sau này có thể chịu ảnh hưởng. (Nguồn: VGP)

Theo khoản 2 Điều 7, căn cứ đóng bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, các khoản phụ cấp lương và những khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.

Đối với phụ cấp lương, Nghị định xác định những khoản nhằm bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt hoặc mức độ thu hút lao động mà tiền lương theo công việc, chức danh chưa phản ánh đầy đủ.

Trong khi đó, những khoản phụ cấp, bổ sung phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc không thuộc nhóm được tính vào căn cứ đóng theo quy định này.

Việc phân định rõ các thành phần tiền lương có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn, bởi thu nhập của người lao động tại nhiều doanh nghiệp thường được cấu thành từ nhiều khoản khác nhau, không chỉ có tiền lương cơ bản.

Riêng đối với trường hợp ngừng việc vẫn hưởng lương và đáp ứng ngưỡng tiền lương theo quy định, căn cứ đóng BHTN được xác định theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc, thay vì mặc nhiên duy trì mức tiền lương đóng bảo hiểm của tháng làm việc bình thường.

Có thể hình dung từ ví dụ giả định nhằm minh họa phương pháp tính như sau: Một người lao động có mức lương làm căn cứ đóng BHTN trong điều kiện làm việc bình thường là 10 triệu đồng/tháng. Khi doanh nghiệp phải tạm ngừng sản xuất vì lý do kinh tế, hai bên thỏa thuận hợp pháp mức lương ngừng việc là 6 triệu đồng/tháng.

Nếu mức 6 triệu đồng đáp ứng ngưỡng tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất, thì căn cứ đóng BHTN trong tháng ngừng việc được xác định là 6 triệu đồng.

Theo mức đóng hiện hành tại Nghị định 374/2025/NĐ-CP, người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng và người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của người lao động tham gia BHTN. Trong ví dụ này, mỗi bên đóng 60.000 đồng cho tháng ngừng việc.

Quy định trên cho phép căn cứ đóng BHTN phản ánh phù hợp hơn với tiền lương được hưởng trong những giai đoạn sản xuất gián đoạn, tránh việc áp dụng máy móc mức lương của thời gian làm việc bình thường. Đồng thời, người lao động vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ tham gia chính sách khi đáp ứng điều kiện pháp luật.

Tuy nhiên, cần nhận diện một vấn đề quan trọng: tiền lương làm căn cứ đóng BHTN không chỉ quyết định số tiền phải đóng hằng tháng, mà còn có liên quan tới mức hưởng trợ cấp thất nghiệp khi người lao động đáp ứng đủ điều kiện hưởng.

Theo Luật Việc làm năm 2025, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại tháng cuối cùng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Điều này có nghĩa, nếu các tháng ngừng việc với mức lương đóng BHTN thấp hơn nằm trong khoảng thời gian được sử dụng để tính bình quân, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp sau này có thể chịu ảnh hưởng.

Bởi vậy, yêu cầu bảo vệ quyền lợi người lao động không chỉ nằm ở việc duy trì đóng BHTN mà còn ở tính chính xác, hợp pháp và minh bạch của tiền lương ngừng việc được sử dụng làm căn cứ đóng.

Bảo đảm thực thi chính sách từ trách nhiệm của doanh nghiệp

Việc hoàn thiện quy định về căn cứ đóng BHTN trong thời gian ngừng việc đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quản trị lao động, tiền lương và bảo hiểm tại doanh nghiệp.

Trước hết, người sử dụng lao động cần xác định đúng nguyên nhân ngừng việc, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả lương theo Bộ luật Lao động, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa thỏa thuận với người lao động, bảng lương, hồ sơ quản lý lao động và dữ liệu đóng bảo hiểm.

Đặc biệt, không thể lấy lý do doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc người lao động không trực tiếp sản xuất để mặc nhiên chấm dứt nghĩa vụ đóng BHTN. Ngược lại, cũng không được tùy tiện hạ thấp tiền lương ngừng việc nhằm giảm chi phí đóng bảo hiểm, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người lao động.

Về phía người lao động, cần chủ động tìm hiểu các quy định liên quan đến tiền lương ngừng việc, kiểm tra mức lương được hưởng và thông tin tham gia bảo hiểm, nhất là trong trường hợp doanh nghiệp điều chỉnh thời gian làm việc hoặc ngừng sản xuất kéo dài.

Ở góc độ quản lý nhà nước, yêu cầu đặt ra là tăng cường hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chính sách, đặc biệt tại những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, các ngành sản xuất có tính mùa vụ hoặc chịu tác động lớn từ biến động thị trường. Cùng với đó, cần đẩy mạnh liên thông dữ liệu về tiền lương, tình trạng lao động và quá trình tham gia bảo hiểm, tạo điều kiện phát hiện sớm những trường hợp kê khai không chính xác, chậm đóng hoặc đóng không đầy đủ.

Nhìn rộng hơn, quy định về đóng BHTN trong thời gian ngừng việc thể hiện sự hoàn thiện của chính sách an sinh theo hướng thích ứng với những biến động ngày càng phức tạp của thị trường lao động. BHTN không chỉ phát huy vai trò khi người lao động đã mất việc mà còn cần được duy trì, quản lý chặt chẽ trong giai đoạn quan hệ lao động gặp khó khăn.

Đỗ Trang

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/ngung-viec-van-phai-dong-bao-hiem-that-nghiep-lam-ro-can-cu-tien-luong-bao-dam-quyen-loi-nguoi-lao-dong.html