Nghị quyết 19: Khi doanh nghiệp không còn phải 'chờ chính sách'
Nghị quyết 19-NQ/TW đặt yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nhưng với doanh nghiệp, thay đổi quan trọng nhất phải bắt đầu từ cách chính sách được thực thi. Theo ông Mạc Quốc Anh, Hà Nội cần chuyển từ việc để doanh nghiệp đi tìm chính sách sang chủ động tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và mở đường cho doanh nghiệp tạo ra giá trị.

Ảnh minh họa
Hà Nội đang đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 11%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030. Để hiện thực hóa mục tiêu này, bài toán không chỉ nằm ở việc huy động thêm nguồn lực mà quan trọng hơn là làm sao để nguồn lực được lưu chuyển nhanh hơn, đến đúng doanh nghiệp và tạo ra năng suất, sản phẩm, việc làm và giá trị gia tăng.
Phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam đã trao đổi với ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội (HANOISME), Viện trưởng Viện Kinh tế và Phát triển doanh nghiệp, về những điểm nghẽn cần được tháo gỡ cho cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa để mô hình tăng trưởng mới thực sự đi vào đời sống.
Cải cách hành chính phải được tính bằng tiền của doanh nghiệp
- Thưa ông, với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đâu là những điểm nghẽn cần được Hà Nội ưu tiên tháo gỡ để Nghị quyết 19 thực sự đi vào đời sống?
Tôi cho rằng cải cách hành chính hiện nay không nên chỉ được nhìn dưới góc độ quản lý nhà nước mà phải được coi là một chính sách kinh tế trực tiếp. Với doanh nghiệp, thời gian chính là tiền, sự không chắc chắn chính là chi phí và một thủ tục kéo dài có thể làm mất cả một cơ hội đầu tư. Một dự án chậm 6 tháng không chỉ là 6 tháng chờ đợi mà còn là lãi vay, mặt bằng, nhân sự, đơn hàng và cơ hội thị trường bị bỏ lỡ.
Vì vậy, nếu Hà Nội giảm được 30-50% thời gian xử lý một số thủ tục quan trọng thì về bản chất, Thành phố đang tạo thêm nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp mà không nhất thiết phải chi ngân sách để hỗ trợ trực tiếp.
Theo tôi, cần tập trung vào ba nhóm điểm nghẽn. Thứ nhất là chuỗi thủ tục về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, phòng cháy chữa cháy, môi trường và đưa dự án vào hoạt động. Chỉ cần một mắt xích chậm, toàn bộ dòng vốn có thể bị "đóng băng". Thành phố cần tiến tới cơ chế một hồ sơ, một đầu mối theo dõi, một mã số tiến độ và xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm cuối cùng.
Thứ hai là các thủ tục phát sinh thường xuyên như thuế, bảo hiểm, giấy phép chuyên ngành, kiểm tra, thanh tra, báo cáo. Vấn đề không chỉ là giảm số lượng thủ tục mà phải giảm việc doanh nghiệp khai đi khai lại cùng một dữ liệu. Doanh nghiệp đã cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước thì về nguyên tắc không nên phải cung cấp lại nhiều lần cho các cơ quan khác.
Thứ ba là chi phí của sự không rõ ràng. Cùng một quy định nhưng nếu mỗi nơi hiểu một cách, doanh nghiệp phải bổ sung, chỉnh sửa và chờ đợi. Vì vậy, cải cách hành chính phải chuyển từ "đúng quy trình" sang "đúng thời hạn và tạo được kết quả".

Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội, Viện trưởng Viện Kinh tế và Phát triển doanh nghiệp
Tôi đề xuất Hà Nội đo bằng những KPI rất cụ thể như thời gian giải quyết hồ sơ, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung, tỷ lệ thủ tục xử lý hoàn toàn trực tuyến, chi phí tuân thủ và tỷ lệ phản ánh của doanh nghiệp được trả lời đúng hạn.
Quan trọng nhất là phải chuyển từ tư duy doanh nghiệp đi tìm cơ quan để hỏi chính sách sang chính quyền chủ động tìm điểm doanh nghiệp đang ách tắc để tháo gỡ. Khi đó, "không còn phải chờ chính sách" mới trở thành trải nghiệm thực tế của doanh nghiệp.
- Nhưng cải cách thủ tục chỉ là một phần. Nghị quyết 19 còn đặt vấn đề khơi thông các nguồn lực như vốn, đất đai, công nghệ, dữ liệu và nhân lực. Theo ông, đâu là nút thắt lớn nhất?
Nếu chỉ được lựa chọn một nút thắt, tôi cho rằng đó không đơn thuần là thiếu vốn mà là khả năng tiếp cận và kết nối các nguồn lực. Nền kinh tế không phải không có vốn, công nghệ, chuyên gia hay thị trường. Vấn đề là những nguồn lực đó chưa đến được đúng doanh nghiệp, đúng thời điểm và với chi phí phù hợp.
Ngân hàng có vốn nhưng doanh nghiệp nhỏ thiếu tài sản bảo đảm và dữ liệu đáng tin cậy; trường đại học có công nghệ nhưng doanh nghiệp không biết công nghệ nào giải quyết được bài toán của mình; doanh nghiệp lớn có nhu cầu mua hàng nhưng doanh nghiệp nhỏ không biết tiêu chuẩn để tham gia.
Do đó, Hà Nội cần xây dựng một "hạ tầng kết nối nguồn lực" trên nền tảng số, giúp doanh nghiệp tiếp cận đồng thời vốn, mặt bằng, công nghệ, nhân lực và thị trường. Trong đó, vốn cần được đánh giá ngày càng nhiều hơn dựa trên dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng, lịch sử thuế và dữ liệu hoạt động thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm. Với mặt bằng, có thể phát triển các cụm sản xuất, không gian dùng chung, hạ tầng chia sẻ để doanh nghiệp nhỏ giảm chi phí đầu tư ban đầu.
Về công nghệ, nên có cơ chế "đặt hàng ngược": doanh nghiệp đưa bài toán, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ đưa giải pháp; Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí thử nghiệm và chỉ tiếp tục hỗ trợ khi giải pháp chứng minh hiệu quả. Với nhân lực cũng cần thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Nói cách khác, Hà Nội không nên chỉ hỏi "có thể cấp thêm bao nhiêu vốn cho doanh nghiệp?", mà cần hỏi "mỗi đồng vốn, mỗi mét vuông đất, mỗi công nghệ, mỗi dữ liệu và mỗi nhân lực đang được đưa vào nơi có năng suất cao nhất hay chưa?"
Chuyển đổi số phải bắt đầu từ bài toán kinh doanh
- Nghị quyết 19 xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, làm thế nào để tránh đầu tư công nghệ theo phong trào, thưa ông?
Doanh nghiệp nhỏ rất dễ rơi vào hai trạng thái: hoặc không dám đầu tư vì sợ tốn kém, hoặc đầu tư theo phong trào vì sợ tụt hậu. Cả hai đều không phù hợp. Nguyên tắc đầu tiên phải là: không bắt đầu từ công nghệ, hãy bắt đầu từ bài toán kinh doanh.
Doanh nghiệp không nên hỏi "có cần AI không?" mà phải hỏi "khâu nào đang làm mình mất nhiều tiền nhất?". Có thể là tồn kho cao, hàng lỗi nhiều, xử lý đơn hàng chậm, chi phí năng lượng lớn, kế toán mất quá nhiều thời gian nhập liệu hay không dự báo được dòng tiền. Khi xác định đúng bài toán, công nghệ mới trở thành công cụ giải quyết vấn đề.
Tôi đề xuất doanh nghiệp chuyển đổi theo nguyên tắc "nhỏ, nhanh, đo được và nhân rộng": chọn một đến hai quy trình tác động trực tiếp đến doanh thu hoặc chi phí, thử nghiệm trong 3-6 tháng, xác định KPI trước khi triển khai và đo lại kết quả. Nếu công nghệ giúp giảm 20% thời gian xử lý đơn hàng, giảm 10% tồn kho, tăng 15% tỷ lệ chuyển đổi khách hàng hay giảm 15% chi phí năng lượng thì đó là chuyển đổi số có hiệu quả. Ngược lại, mua phần mềm hiện đại nhưng nhân viên không sử dụng, dữ liệu không được cập nhật và năng suất không thay đổi thì chưa thể gọi là chuyển đổi số thành công.

Hà Nội cũng nên chuyển cách hỗ trợ doanh nghiệp từ đại trà sang đồng tài trợ dựa trên kết quả, đồng thời xây dựng danh mục những giải pháp công nghệ đã được kiểm chứng cho từng nhóm ngành để doanh nghiệp không phải tự mò mẫm. Điều quan trọng không phải doanh nghiệp nhỏ trở thành một công ty công nghệ, mà là mọi doanh nghiệp phải biết sử dụng công nghệ để nâng năng suất. Cuối cùng chỉ cần trả lời ba câu hỏi: doanh thu có tăng không, chi phí có giảm không và năng lực cạnh tranh có tốt hơn không?
- Một vấn đề khác là kết nối doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp lớn, trường đại học, viện nghiên cứu. Làm thế nào để những kết nối này tạo ra giá trị thực chất thay vì chỉ dừng ở hội nghị, thưa ông?
Chúng ta phải thay đổi căn bản cách hiểu về "kết nối doanh nghiệp". Nếu chỉ tổ chức hội nghị, trao danh thiếp, ký biên bản ghi nhớ rồi kết thúc thì hiệu quả kinh tế rất hạn chế. Kết nối chỉ có ý nghĩa khi tạo ra ít nhất một trong ba kết quả: đơn hàng, công nghệ hoặc thị trường.
Hà Nội nên xây dựng cơ chế phát triển nhà cung ứng theo chuỗi giá trị. Thành phố phối hợp với các tập đoàn lớn, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp đầu chuỗi công bố nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn chất lượng, yêu cầu công nghệ, ESG và sản lượng dự kiến. Doanh nghiệp nhỏ đăng ký tham gia, được đánh giá mức độ sẵn sàng và hỗ trợ nâng cấp những tiêu chuẩn còn thiếu.
Các trường đại học, viện nghiên cứu cũng phải được đưa trực tiếp vào chuỗi này. Tôi hình dung mô hình: "doanh nghiệp đặt bài toán, viện trường giải bài toán, doanh nghiệp lớn tạo thị trường, Nhà nước kiến tạo và chia sẻ rủi ro ban đầu". Nếu một doanh nghiệp nhỏ chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà cung ứng lớn, trường đại học có thể hỗ trợ giải pháp công nghệ, Thành phố hỗ trợ thử nghiệm, doanh nghiệp đầu chuỗi kiểm định và nếu đạt yêu cầu thì chuyển ngay sang hợp đồng thương mại. Như vậy, nghiên cứu khoa học không kết thúc ở đề tài nghiệm thu mà đi tiếp thành sản phẩm và đơn hàng.
Tôi cũng cho rằng Hà Nội cần xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng với hồ sơ năng lực được chuẩn hóa. Khi tập đoàn muốn tìm nhà cung cấp tại Hà Nội, có thể tra cứu theo ngành nghề, năng lực sản xuất, chứng nhận, công nghệ và kinh nghiệm. Quan trọng hơn, phải đo kết quả của các chương trình kết nối. Không nên chỉ báo cáo có bao nhiêu doanh nghiệp tham dự hay bao nhiêu cuộc gặp B2B, mà phải biết sau sáu tháng có bao nhiêu hợp đồng được ký, tổng giá trị đơn hàng bao nhiêu, bao nhiêu doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng mới và bao nhiêu công nghệ được chuyển giao.
Muốn giúp doanh nghiệp nhỏ phát triển, chúng ta phải giúp doanh nghiệp đi từ "tham dự hội nghị" sang "tham gia chuỗi giá trị", từ "kết nối" sang "giao dịch" và từ "biết nhau" sang "làm ăn được với nhau".
Từ kết nối sang đơn hàng, từ chính sách sang năng lực tăng trưởng
- Nếu phải chọn những thước đo quan trọng nhất để đánh giá sau 1-2 năm Nghị quyết 19 có thực sự tạo chuyển biến cho doanh nghiệp Hà Nội, ông sẽ chọn gì?
Tôi sẽ không chọn số hội nghị, số văn bản hay số doanh nghiệp được phổ biến chính sách. Tôi chọn ba nhóm chỉ tiêu: chi phí của doanh nghiệp, năng suất của doanh nghiệp và khả năng doanh nghiệp bước lên trong chuỗi giá trị.
Thứ nhất là chi phí tuân thủ và thời gian thực hiện thủ tục. Nếu sau 1-2 năm, thời gian xử lý các thủ tục quan trọng về đầu tư, đất đai, xây dựng, thuế, giấy phép chuyên ngành giảm 30-50%, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung nhiều lần giảm mạnh và doanh nghiệp biết rõ hồ sơ đang ở đâu, ai xử lý, bao giờ có kết quả, đó là chuyển biến thực chất.
Thứ hai là năng suất và khả năng hấp thụ công nghệ. Nếu năng suất lao động của nhóm doanh nghiệp tham gia chương trình tăng tối thiểu 10-15% mỗi năm, đồng thời doanh nghiệp sử dụng thực chất các công cụ quản trị số, dữ liệu, tự động hóa hoặc AI thì đó là tín hiệu tích cực.
Thứ ba là số doanh nghiệp bước lên một nấc mới trong chuỗi giá trị: lần đầu trở thành nhà cung ứng cho tập đoàn lớn hoặc doanh nghiệp FDI, có hợp đồng xuất khẩu mới, thương mại hóa được công nghệ hoặc chuyển từ gia công sang sở hữu sản phẩm, thương hiệu.

3 THƯỚC ĐO ĐỂ BIẾT NGHỊ QUYẾT 19 CÓ ĐI VÀO ĐỜI SỐNG DOANH NGHIỆP
30-50%
Mức giảm thời gian xử lý các thủ tục quan trọng về đầu tư, đất đai, xây dựng, thuế, giấy phép chuyên ngành.
10-15%/năm
Mức tăng năng suất lao động của nhóm doanh nghiệp tham gia các chương trình hỗ trợ.
"Nâng hạng" trong chuỗi giá trị
Ngày càng nhiều doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng cho tập đoàn lớn, doanh nghiệp FDI; có hợp đồng xuất khẩu mới, thương mại hóa công nghệ hoặc chuyển từ gia công sang sở hữu sản phẩm, thương hiệu.
Nghị quyết chỉ thực sự thành công khi doanh nghiệp cảm nhận được sự thay đổi bằng chính hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Tôi kỳ vọng một mô hình quản trị mới, trong đó doanh nghiệp không phải đi từng nơi hỏi "chính sách này bao giờ thực hiện", mà chính sách được thiết kế rõ, dữ liệu được kết nối, trách nhiệm được xác định và hệ thống chủ động phục vụ doanh nghiệp.
Nói cách khác, điều Hà Nội cần hướng tới sau Nghị quyết 19 là chuyển từ trạng thái "doanh nghiệp chờ chính sách" sang "chính sách mở đường cho doanh nghiệp".
Khi thủ tục nhanh hơn, nguồn lực lưu chuyển tốt hơn, khoa học - công nghệ thực sự làm tăng năng suất và doanh nghiệp nhỏ có thể bước vào những chuỗi giá trị lớn hơn, chúng ta không chỉ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp mà đang tạo ra một năng lực phát triển mới cho Thủ đô.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!
