Nghị quyết 57-NQ/TW: Hiệu quả được đo bằng sản phẩm và kết quả đầu ra
Nghị quyết số 57-NQ/TW được Bộ Công Thương thực hiện đồng bộ tạo chuyển biến tích cực, từng bước đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành động lực phát triển của ngành.
Việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị tại Bộ Công Thương đã có những kết quả và chuyển biến tích cực. Chuyển biến rõ nhất là sự chuyển biến từ tư duy quản lý sang kiến tạo, phục vụ phát triển; từ giai đoạn khởi động sang đo lường bằng sản phẩm, dữ liệu và kết quả đầu ra.

Hội nghị Ban chỉ đạo của Bộ Công Thương về phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Ảnh: Bộ Công Thương
Kết quả nổi bật nhất là về cải cách thể chế, thủ tục hành chính với việc Bộ Công Thương tiếp tục thuộc nhóm 3 bộ, ngành dẫn đầu về phục vụ người dân, doanh nghiệp. Sau 1,5 năm triển khai Nghị quyết số 57, Bộ Công Thương đã ban hành hoặc trình ban hành 17 văn bản quy phạm pháp luật liên quan khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa 55,34% thủ tục hành chính (233/421 thủ tục), tiết kiệm khoảng 491,3 tỷ đồng chi phí tuân thủ; hoàn thành phân cấp 43/45 thủ tục hành chính, đạt 95,5%.
Về chuyển đổi số, dữ liệu và dịch vụ công, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung vận hành từ ngày 1/1/2026, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến xấp xỉ 99%; đã tích hợp 265 dịch vụ công trực tuyến lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; tạo lập khoảng 204.000 dữ liệu hóa chất, tiền chất; đồng bộ 16/16 nhóm chỉ tiêu của cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại với Trung tâm dữ liệu quốc gia; rà soát 41 loại giấy tờ chuyên ngành để tích hợp VNeID.
Về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Đã xác định 3 bài toán lớn của ngành gồm bảo đảm an ninh năng lượng; tự chủ công nghiệp, nâng cao nội địa hóa và chuỗi giá trị; hiện đại hóa thương mại bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy. Trên cơ sở đó, đề xuất 6 nhiệm vụ cho 4 nhóm chính: Digital Twin hệ thống điện, thiết bị đóng cắt trung áp - cao áp, robot/AI công nghiệp và vật liệu CNTs.
Các doanh nghiệp, viện, trường trong ngành Công Thương đã chủ động triển khai, chuyển từ ứng dụng công nghệ thông tin đơn lẻ sang hình thành danh mục công nghệ, sản phẩm chiến lược gắn với vận hành, sản xuất, thị trường và lợi nhuận, hiệu quả cụ thể.
Về phát triển nguồn nhân lực: Tỷ lệ cán bộ, công chức được bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản đạt 81%; phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai gắn với AI, dữ liệu lớn và tự động hóa công vụ; bước đầu áp dụng cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài và chuyển dịch đào tạo của hệ thống viện, trường sang bán dẫn, AI, năng lượng xanh, logistics và các ngành công nghệ lõi.
Nhấn mạnh năm 2026 sẽ tập trung vào công nghệ chiến lược cũng như triển khai các nhiệm vụ quy mô lớn, bà Nguyễn Thị Lâm Giang thông tin, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược của ngành Công Thương có sự điều chỉnh từ Quyết định số 1131/QĐ-TTg sang Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg. Nếu Quyết định số 1131/QĐ-TTg xác định 11 công nghệ chiến lược thì Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg xác định 10 công nghệ chiến lược, gồm: công nghệ số; mạng di động thế hệ sau; robot và tự động hóa; công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến; công nghệ chip bán dẫn; công nghệ an ninh mạng và lượng tử; công nghệ biển, đại dương và lòng đất; công nghệ hàng không và vũ trụ; công nghệ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.
Các công nghệ chiến lược trên được chia thành 2 nhóm: Nhóm sản phẩm đã có thị trường, tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế; và nhóm sản phẩm tạo động lực tăng trưởng mới, công nghệ nền tảng cho tương lai, góp phần bảo đảm tự chủ. Các xu hướng nổi bật tại Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg gồm: số hóa và AI; sản xuất thông minh, năng lượng xanh; nông nghiệp và công nghệ sinh học; khai khoáng - biển - dầu khí; hạ tầng và giao thông hiện đại.
Về nhiệm vụ của Bộ Công Thương tại Quyết định số 808/QĐ-TTg, Bộ sẽ xây dựng nhiệm vụ theo Danh mục, xác định rõ sản phẩm đầu ra và hoàn thành trước ngày 30/6/2026; tổ chức triển khai nhiệm vụ, đa dạng hóa và sử dụng hiệu quả nguồn lực, chịu trách nhiệm về tiến độ, sản phẩm đầu ra; báo cáo Tổ công tác của Chính phủ, đồng thời kiến nghị xử lý các vấn đề vượt thẩm quyền.

Doanh nghiệp ngành công thương chủ động ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh. Ảnh: Bộ Công Thương
Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Cục Xuất nhập khẩu xác định đây là cơ hội quan trọng để đổi mới toàn diện phương thức quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, dịch vụ logistics, xuất xứ hàng hóa, thương mại biên giới và tạo thuận lợi thương mại theo hướng hiện đại, thông minh, số hóa.
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, Cục Xuất nhập khẩu tập trung đề xuất một số định hướng, sáng kiến và nhiệm vụ trọng tâm: Thứ nhất, phát triển hạ tầng dữ liệu số quốc gia về xuất nhập khẩu, thương mại biên giới, dịch vụ logistics và xuất xứ hàng hóa; thứ hai, thúc đẩy triển khai các công nghệ chiến lược trong quản lý xuất nhập khẩu, thương mại biên giới, dịch vụ logistics và xuất xứ hàng hóa; thứ ba, xây dựng nền tảng điều phối logistics số quốc gia; thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số và tạo thuận lợi thương mại tại khu vực cửa khẩu biên giới; thứ năm, phát triển nguồn nhân lực số và đổi mới sáng tạo ngành công thương.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, việc thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, triển khai công nghệ chiến lược trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, logistics và tạo thuận lợi thương mại không chỉ là yêu cầu cấp thiết, mà còn là động lực quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển kinh tế số và hội nhập kinh tế quốc tế bền vững.
“Cục Xuất nhập khẩu sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thuộc bộ, các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ được giao theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW” - ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh.
Chia sẻ về "cần cơ chế, chính sách đặc thù nhằm phát triển các sản phẩm cơ khí có dung lượng thị trường lớn giai đoạn 2026 - 2045", TS. Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí nhận định, các dự báo cho thấy thị trường trong nước giai đoạn này đủ lớn để tạo động lực mới cho ngành cơ khí, nhưng cần lựa chọn đúng trọng tâm.
Theo TS. Phan Đăng Phong, các lĩnh vực nên ưu tiên gồm đường sắt, năng lượng, lưới điện, khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu, ô tô - xe máy, thiết bị điện, cơ khí nông nghiệp, thiết bị đồng bộ và dịch vụ kỹ thuật sau đầu tư. Đây là những lĩnh vực vừa có quy mô thị trường lớn, vừa có khả năng lan tỏa sang công nghiệp hỗ trợ và hình thành doanh nghiệp cơ khí nòng cốt.
Nói cách khác, cơ hội của cơ khí Việt Nam nằm ngay ở thị trường trong nước. Vấn đề then chốt là phải biến nhu cầu đầu tư thành đơn hàng cụ thể, nhiệm vụ chuyển giao công nghệ cụ thể và yêu cầu nội địa hóa cụ thể cho doanh nghiệp Việt Nam. Nếu thiếu cơ chế thực hiện rõ ràng, phần lớn giá trị thiết bị trong các dự án lớn vẫn sẽ thuộc về nhà thầu và nhà cung cấp nước ngoài.
“Cơ chế, chính sách tạo đột phá trong giai đoạn tới cần tập trung vào các lĩnh vực có dung lượng thị trường lớn, tác động lan tỏa cao và có khả năng đưa doanh nghiệp Việt Nam lên các khâu thiết kế, tích hợp hệ thống, quản lý dự án và chế tạo thiết bị. Hỗ trợ phải có điều kiện, có thời hạn, có tiêu chí lượng hóa và gắn với kết quả đầu ra; không dàn trải cho toàn ngành mà cần tập trung vào sản phẩm cơ khí trọng điểm, doanh nghiệp nòng cốt, dự án ưu tiên và các khâu có giá trị gia tăng cao” - TS. Phan Đăng Phong đề xuất.
Cùng với đó, về nguồn nhân lực và truyền thông, Bộ sẽ tiếp tục “Bình dân học vụ số”, cập nhật học liệu ngành công thương; đào tạo nhân lực chất lượng cao cho viện, trường và doanh nghiệp; bồi dưỡng chuyên sâu về dữ liệu, AI, an toàn thông tin, công nghệ lõi; nâng chất lượng truyền thông chính sách và đo lường hiệu quả lan tỏa.
Ngoài ra, về chính sách công nghiệp và dữ liệu công nghiệp: Hoàn thiện chính sách nội địa hóa, tự chủ và chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI; phối hợp hoàn thiện Luật Công nghiệp trọng điểm; triển khai Chương trình công nghiệp hỗ trợ 2026-2035 và Kế hoạch phát triển dữ liệu công nghiệp 2026-2030…
Cùng đó, về phát triển công nghệ chiến lược, Bộ sẽ tiếp tục thông báo để hướng dẫn các doanh nghiệp, đơn vị bổ sung việc đề xuất triển khai nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược trong giai đoạn 2027 - 2030; nghiên cứu để bổ sung các nhóm sản phẩm như logistics thông minh, thương mại số, chế biến sâu khoáng sản và đất hiếm, cụ thể hóa thành nhiệm vụ có doanh nghiệp đầu mối, địa chỉ ứng dụng, lộ trình thí điểm và nguồn vốn rõ ràng.
Đối với lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Tập trung đẩy mạnh triển khai các Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Bộ quản lý trong các lĩnh vực: Chuyển đổi số và sản xuất thông minh, năng suất chất lượng, công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ môi trường, khai khoáng, …; trong đó sẽ tập trung triển khai thành các cụm/chuỗi nhiệm vụ quy mô lớn theo mô hình 3 nhà; hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đánh giá sẵn sàng công nghệ, nâng cấp theo chuỗi, thử nghiệm, đo lường, tiêu chuẩn, sản xuất thông minh và sản xuất xanh; phát triển trung tâm thử nghiệm, phòng thí nghiệm dùng chung và mạng lưới nhà cung ứng trong nước.
Về lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính: Triển khai đầy đủ các phương án cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh; hoàn thiện dịch vụ công phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; mở rộng dịch vụ công toàn trình, thanh toán điện tử và tiếp tục thực thi Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP dựa trên dữ liệu.Theo đó, về lĩnh vực chuyển đổi số và dữ liệu: Nâng cấp Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung; tích hợp 41 loại giấy tờ lên VNeID; duy trì hỗ trợ 34 tỉnh, thành phố; hoàn tất xác nhận đồng bộ cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại; xây dựng phương án cloud, dữ liệu mở, API và an toàn thông tin phù hợp.
Bộ Công Thương cho biết: Từ nay đến cuối năm Bộ sẽ tiếp tục quán triệt chỉ đạo của Trung ương, xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên; người đứng đầu chịu trách nhiệm cao nhất, thực hiện theo nguyên tắc “6 rõ”, bảo đảm nhiệm vụ có sản phẩm cụ thể, không để chậm muộn. Tập trung vào hoàn thiện thể chế; hạ tầng và dữ liệu số; cải cách hành chính, dịch vụ công; phát triển công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược; bố trí, sử dụng hiệu quả kinh phí.
