Nghị quyết số 26-NQ/TW: Tạo 'bứt phá' từ sức mạnh của văn hóa, di sản Việt Nam
Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt ra yêu cầu đột phá ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó có trụ cột bản sắc và giá trị văn hóa. Để khơi dậy các giá trị di sản thành động lực tăng trưởng, phóng viên Báo Nhân Dân đã phỏng vấn Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. (Ảnh: nhân vật cung cấp)
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện 5 Nghị quyết, 1 Chỉ thị của Bộ Chính trị vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ 6 văn kiện tạo thành một chỉnh thể thống nhất về quan điểm và hành động nhằm giải phóng mọi nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm cả du lịch.
Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt ra yêu cầu đột phá ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó có trụ cột bản sắc và giá trị văn hóa. Để khơi dậy các giá trị di sản thành động lực tăng trưởng, phóng viên Báo Nhân Dân đã phỏng vấn Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.

Các đại biểu dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện 5 Nghị quyết, 1 Chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9. (Ảnh: TRẦN HẢI)
Văn hóa là nền tảng cốt lõi để phát triển du lịch
Phóng viên: Trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện 5 Nghị quyết, 1 Chỉ thị của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: Phát triển du lịch phải lấy văn hóa, bản sắc, trải nghiệm làm lợi thế để phát triển. Nghị quyết số 26-NQ/TW cũng xác định văn hóa là nền tảng cốt lõi để phát triển du lịch. Theo bà, điều này có ý nghĩa như thế nào đối với việc phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam trong thời gian tới?
Bà Nguyễn Thị Việt Nga: Tôi cho rằng đây là một trong những quan điểm có ý nghĩa nền tảng và cũng là điểm nhấn rất quan trọng của Nghị quyết số 26-NQ/TW. Việc xác định văn hóa là nền tảng cốt lõi không chỉ khẳng định vai trò của văn hóa đối với du lịch, mà còn định hướng lại cách thức phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn mới: chuyển từ khai thác chủ yếu tài nguyên cảnh quan và gia tăng số lượng khách sang tạo lập giá trị bằng bản sắc, chiều sâu văn hóa và chất lượng trải nghiệm.
Di sản văn hóa, cả vật thể và phi vật thể, là phần kết tinh sâu sắc nhất của lịch sử, bản sắc và trí tuệ cộng đồng. Mỗi di tích, lễ hội, làn điệu dân ca, nghề thủ công truyền thống, tập quán xã hội hay tri thức dân gian đều chứa đựng những câu chuyện riêng về đất nước và con người Việt Nam. Đây chính là nguồn tài nguyên đặc biệt để tạo nên sự khác biệt của du lịch Việt Nam trong một thị trường ngày càng cạnh tranh. Cảnh quan đẹp có thể tìm thấy ở nhiều quốc gia, nhưng chiều sâu lịch sử, bản sắc văn hóa và câu chuyện của mỗi dân tộc là những giá trị không thể sao chép.

Khu di tích Hoàng thành Thăng Long (Ảnh: nhandan.vn)
Quan điểm của Nghị quyết cũng cho thấy di sản không nên chỉ được nhìn nhận như một đối tượng cần bảo vệ trong trạng thái tĩnh, mà phải được bảo tồn trong đời sống và phát huy một cách có trách nhiệm. Khi di sản được nghiên cứu, diễn giải và chuyển hóa thành những sản phẩm văn hóa, du lịch có chất lượng, giá trị của di sản sẽ được nhận diện đầy đủ hơn, có thêm nguồn lực để bảo tồn và được truyền lại cho các thế hệ sau.
Tuy nhiên, cần nhận thức rõ rằng văn hóa là nền tảng của du lịch chứ không phải “nguyên liệu” để khai thác bằng mọi giá. Phát huy giá trị di sản phải bắt đầu từ sự tôn trọng tính chân thực, tính toàn vẹn, không gian văn hóa và vai trò chủ thể của cộng đồng. Không thể vì mục tiêu tăng lượng khách hoặc doanh thu trước mắt mà thương mại hóa thô ráp, sân khấu hóa tùy tiện hoặc làm biến dạng di sản.
Việc xác định văn hóa là nền tảng cốt lõi không chỉ khẳng định vai trò của văn hóa đối với du lịch, mà còn định hướng lại cách thức phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn mới: chuyển từ khai thác chủ yếu tài nguyên cảnh quan và gia tăng số lượng khách sang tạo lập giá trị bằng bản sắc, chiều sâu văn hóa và chất lượng trải nghiệm.
Bà Nguyễn Thị Việt Nga
Tinh thần này phù hợp với Luật Di sản văn hóa năm 2024, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội. Các chủ trương, chính sách này cùng đặt văn hóa vào vị trí nguồn lực nội sinh và động lực phát triển đất nước. Vấn đề quan trọng trong thời gian tới là phải chuyển nhận thức đó thành quy hoạch, sản phẩm, cơ chế đầu tư và phương thức quản trị cụ thể, để mỗi giá trị di sản thực sự được “đánh thức” đúng cách, vừa đóng góp cho phát triển, vừa được bảo tồn bền vững.
Phóng viên: Trước mục tiêu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế đến năm 2030, theo bà, di sản văn hóa phải được định vị và khai thác như thế nào để là động lực thu hút khách, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách?
Bà Nguyễn Thị Việt Nga: Mục tiêu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế đến năm 2030 là một mục tiêu lớn, thể hiện quyết tâm đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Nhưng điều đáng chú ý là Nghị quyết không chỉ đặt vấn đề tăng số lượng khách, mà yêu cầu chuyển mạnh từ “số lượng” sang “chất lượng”, ưu tiên khách có mức chi tiêu cao, lưu trú dài ngày và nâng cao giá trị gia tăng. Trong chiến lược đó, di sản văn hóa phải giữ vai trò là một trong những trụ cột tạo nên sức hấp dẫn, khả năng cạnh tranh và thương hiệu riêng của du lịch Việt Nam.

(Hình ảnh có sử dụng AI trong thiết kế).
Khách quốc tế ngày nay không chỉ tìm kiếm một địa điểm để tham quan, mà ngày càng quan tâm đến những trải nghiệm có chiều sâu: được tìm hiểu lịch sử, tiếp xúc với cộng đồng bản địa, thưởng thức nghệ thuật và ẩm thực, trải nghiệm nghề truyền thống, tham gia vào đời sống văn hóa của điểm đến. Việt Nam có lợi thế rất lớn về hệ thống di sản phong phú, đa dạng và trải dài trên khắp các vùng miền. Nếu được tổ chức tốt, đây chính là điều kiện để hình thành những sản phẩm du lịch đặc sắc, kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng mức chi tiêu và tạo động lực để du khách quay trở lại.
Tuy nhiên, chúng ta không thể chỉ dựa vào danh hiệu của di sản hoặc bán vé tham quan di tích. Danh hiệu tạo nên sức hút ban đầu, nhưng chất lượng trải nghiệm mới quyết định mức độ hài lòng và khả năng quay lại của du khách. Cần chuyển từ tư duy khai thác từng điểm di sản riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái sản phẩm và các tuyến du lịch văn hóa liên vùng; kết nối di tích với bảo tàng, nghệ thuật biểu diễn, ẩm thực, làng nghề, sản phẩm sáng tạo, kinh tế đêm và đời sống cộng đồng.
Mỗi địa phương cũng cần xác định rõ giá trị khác biệt, tránh tình trạng sản phẩm ở đâu cũng giống nhau, lễ hội bị đồng dạng hóa, quà lưu niệm thiếu bản sắc. Đặc biệt, phải đầu tư nhiều hơn cho công tác nghiên cứu, kể chuyện và diễn giải di sản. Một di sản có giá trị lớn nhưng được giới thiệu sơ sài, thiếu ngoại ngữ, thiếu câu chuyện hấp dẫn và thiếu dịch vụ đồng bộ thì khó có thể tạo thành sản phẩm du lịch chất lượng cao.
Mỗi địa phương cũng cần xác định rõ giá trị khác biệt, tránh tình trạng sản phẩm ở đâu cũng giống nhau, lễ hội bị đồng dạng hóa, quà lưu niệm thiếu bản sắc.
Bà Nguyễn Thị Việt Nga
Do đó, vai trò của di sản không chỉ là thu hút thêm khách mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng dòng khách và giá trị kinh tế trên mỗi lượt khách. Nếu làm tốt, di sản sẽ giúp Việt Nam không cạnh tranh bằng giá rẻ mà bằng bản sắc, chất lượng và những trải nghiệm không thể thay thế. Đó mới là nền tảng bền vững để đạt mục tiêu của Nghị quyết.
“Đầu tư cho di sản để cùng phát triển”
Phóng viên: Nghị quyết khuyến khích ứng dụng công nghệ số, AI vào bảo tàng, di tích, biểu diễn thực cảnh. Bà đánh giá thế nào về tiềm năng của công nghệ trong việc giới thiệu di sản tới du khách?
Bà Nguyễn Thị Việt Nga: Tôi đánh giá tiềm năng của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực này là rất lớn. Công nghệ có thể tạo ra một bước chuyển căn bản trong cả ba khâu: bảo tồn di sản, giới thiệu di sản và quản trị hoạt động du lịch.
Trước hết, số hóa 3D, xây dựng bản sao số, cơ sở dữ liệu và hồ sơ khoa học điện tử giúp lưu giữ chính xác hiện trạng của di tích, hiện vật và di sản tư liệu; hỗ trợ nghiên cứu, phục dựng và ứng phó khi di sản chịu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu hoặc xuống cấp theo thời gian.

Công nghệ trình chiếu hiện đại biến di sản Hoàng thành Thăng Long thành sân khấu rực rỡ sắc màu. (Ảnh: NAM NGUYỄN)
Trong giới thiệu và quảng bá, công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường, bản đồ số, vé điện tử, thuyết minh đa phương tiện và trợ lý du lịch ảo đa ngôn ngữ có thể giúp du khách tiếp cận di sản sinh động và thuận tiện hơn. AI có khả năng cá nhân hóa nội dung theo độ tuổi, ngôn ngữ, thời gian và nhu cầu của từng nhóm khách; đồng thời hỗ trợ người khuyết tật hoặc những người chưa có điều kiện trực tiếp đến tham quan. Với những di tích chỉ còn dấu tích khảo cổ hoặc những hiện vật không thể trưng bày thường xuyên, công nghệ có thể giúp tái hiện bối cảnh lịch sử và làm cho câu chuyện của di sản trở nên dễ hiểu hơn.
Trong quản trị điểm đến, dữ liệu lớn và AI có thể hỗ trợ dự báo lượng khách, điều tiết dòng người, nhận diện nguy cơ quá tải, giám sát môi trường và đánh giá phản hồi của du khách. Như vậy, công nghệ không chỉ làm cho trải nghiệm hấp dẫn hơn mà còn góp phần bảo vệ di sản và nâng cao năng lực quản trị.
Tuy nhiên, cần khẳng định công nghệ chỉ là phương tiện, không thể thay thế giá trị nguyên gốc của di sản, tri thức chuyên môn của nhà nghiên cứu, vai trò của nghệ nhân và sự giao tiếp giữa con người với con người. Việc phục dựng bằng AI nếu thiếu kiểm chứng khoa học có thể tạo ra nội dung sai lệch, thậm chí khiến công chúng nhầm lẫn giữa dữ liệu lịch sử và sản phẩm tưởng tượng.
Công nghệ có thể tạo ra một bước chuyển căn bản trong cả ba khâu: bảo tồn di sản, giới thiệu di sản và quản trị hoạt động du lịch.
Bà Nguyễn Thị Việt Nga
Vì vậy, cần xây dựng cơ chế kiểm duyệt chuyên môn đối với nội dung số; xác định rõ nguồn dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ, quyền của cộng đồng nắm giữ di sản và trách nhiệm khi thông tin sai lệch. Đồng thời phải bảo đảm an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân của du khách và không để khoảng cách số khiến một bộ phận người dân, nghệ nhân hoặc cơ sở văn hóa nhỏ bị đứng ngoài quá trình chuyển đổi.
Nếu được ứng dụng đúng hướng, công nghệ sẽ không làm di sản xa rời bản chất mà có thể mở rộng không gian sống của di sản, giúp di sản đến gần hơn với công chúng, nhất là giới trẻ và khách quốc tế.
Phóng viên: Thưa bà, để hoạt động du lịch vừa phát huy hiệu quả giá trị di sản, vừa bảo đảm gìn giữ nguyên vẹn tính chân thực và cốt cách vốn có, chúng ta cần chú trọng những giải pháp trọng tâm nào trong công tác quy hoạch và quản lý?
Bà Nguyễn Thị Việt Nga: Theo tôi, trước hết phải thống nhất một nguyên tắc: bảo tồn di sản là điều kiện tiên quyết, còn khai thác du lịch là phương thức phát huy giá trị. Nếu hoạt động du lịch làm suy giảm tính chân thực, tính toàn vẹn hoặc làm mất đi chủ thể của di sản thì về lâu dài, chính du lịch cũng đánh mất nguồn lực phát triển của mình.
Để thực hiện nguyên tắc đó, cần tập trung vào một số giải pháp.

Một góc đô thị cổ Hội An nhìn từ trên cao về đêm. (Ảnh: Anh Quân-Đỗ Vạn)
Trước hết, mỗi di sản, nhất là di sản thế giới, di tích quốc gia đặc biệt và các di sản có nguy cơ chịu áp lực lớn, phải có kế hoạch quản lý và cơ chế giám sát cụ thể. Cần xác định sức chịu tải về không gian, môi trường và xã hội; thu thập dữ liệu về lượng khách theo thời gian thực; tổ chức đặt vé theo khung giờ, phân luồng và giới hạn khách khi cần thiết. Không thể áp dụng một chỉ tiêu tăng trưởng khách giống nhau cho mọi điểm đến.
Thứ hai, mọi dự án du lịch liên quan đến khu vực di sản phải được đánh giá đầy đủ tác động đối với cảnh quan, kiến trúc, môi trường văn hóa và đời sống cộng đồng. Việc tu bổ, phục dựng, xây dựng công trình dịch vụ phải tuân thủ pháp luật, quy hoạch và hồ sơ khoa học; kiên quyết ngăn chặn tình trạng xây dựng lấn át di tích, “bê tông hóa”, phục dựng tùy tiện hoặc làm mới di sản theo thị hiếu ngắn hạn.
Thứ ba, phải có cơ chế tài chính minh bạch, bảo đảm một phần hợp lý nguồn thu từ du lịch được tái đầu tư trực tiếp cho bảo tồn, nghiên cứu, số hóa, đào tạo nhân lực và cải thiện sinh kế của cộng đồng. Không nên để địa phương hoặc cộng đồng gánh trách nhiệm bảo tồn trong khi lợi ích chủ yếu lại rơi vào một số doanh nghiệp khai thác dịch vụ.
Thứ tư, người dân phải thực sự là chủ thể tham gia và thụ hưởng. Với di sản phi vật thể, điều này càng có ý nghĩa đặc biệt. Cần tôn trọng quyền quyết định của cộng đồng về nội dung nào có thể giới thiệu, cách thức trình diễn và giới hạn của việc thương mại hóa; tránh cắt xén, biến đổi nghi lễ hoặc sân khấu hóa di sản chỉ để chiều theo nhu cầu của khách.
Cần chuyển từ tư duy “khai thác di sản” sang “đầu tư cho di sản để cùng phát triển”.
Bà Nguyễn Thị Việt Nga
Thứ năm, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phát triển du lịch di sản, trong đó không chỉ đo doanh thu và lượng khách, mà phải đo cả tình trạng bảo tồn, mức độ hài lòng của cộng đồng, chất lượng việc làm, tỷ lệ nguồn thu quay trở lại di sản và tác động môi trường. Cùng với đó là tăng cường thanh tra, hậu kiểm, quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu và xử lý nghiêm những hành vi xâm hại di sản.
Nói một cách ngắn gọn, cần chuyển từ tư duy “khai thác di sản” sang “đầu tư cho di sản để cùng phát triển”. Du lịch phải tạo thêm nguồn lực và sức sống cho di sản, chứ không được tiêu dùng dần những giá trị mà cha ông để lại.
Phóng viên: Trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện 5 Nghị quyết, 1 Chỉ thị của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kỳ vọng: Phát triển du lịch sẽ trở thành động lực tăng trưởng mới. Bà kỳ vọng gì khi Nghị quyết 26-NQ/TW được triển khai, đặc biệt trong việc phát huy giá trị văn hóa, di sản Việt Nam?
Bà Nguyễn Thị Việt Nga: Tôi kỳ vọng Nghị quyết số 26-NQ/TW sẽ tạo ra một bước chuyển thực chất trong tư duy và hành động: từ coi du lịch chủ yếu là ngành cung cấp dịch vụ sang quản trị một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, trong đó văn hóa và di sản là nền tảng tạo nên bản sắc, chất lượng và năng lực cạnh tranh.
Kỳ vọng lớn nhất của tôi là các giá trị văn hóa, di sản Việt Nam sẽ được nhận diện đầy đủ hơn, đầu tư tương xứng hơn và được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển bằng những phương thức sáng tạo, có trách nhiệm. Mỗi địa phương cần xây dựng được những sản phẩm du lịch đặc thù từ chính lịch sử, văn hóa và con người của mình, thay vì chạy theo các mô hình giống nhau. Qua đó, du lịch không chỉ đem lại doanh thu mà còn góp phần phục hồi nghề truyền thống, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, nuôi dưỡng niềm tự hào và củng cố sức mạnh mềm quốc gia.
Tuy nhiên, để kỳ vọng trở thành kết quả, Nghị quyết phải sớm được thể chế hóa bằng chương trình hành động cụ thể, có lộ trình, nguồn lực, đầu mối chịu trách nhiệm và các chỉ tiêu có thể đo lường. Cần rà soát sự đồng bộ giữa pháp luật về du lịch, di sản văn hóa, đất đai, đầu tư, quy hoạch, bảo vệ môi trường, khoa học, công nghệ và sở hữu trí tuệ; kịp thời tháo gỡ những điểm nghẽn nhưng không hạ thấp các tiêu chuẩn bảo tồn.

Di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn. (Ảnh: Trang disanvanhoamyson.vn)
Tôi cũng kỳ vọng sẽ có sự phối hợp thực chất hơn giữa ngành văn hóa, du lịch với giao thông, ngoại giao, giáo dục, khoa học, công nghệ và chính quyền địa phương; hình thành cơ sở dữ liệu thống nhất, các tuyến du lịch liên vùng và cơ chế hợp tác công tư minh bạch. Doanh nghiệp cần được khuyến khích đổi mới sáng tạo, nhưng đồng thời phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm với di sản, môi trường và cộng đồng.
Về phía Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, tôi cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, giám sát việc bố trí và sử dụng nguồn lực, giám sát trách nhiệm thực thi của các cấp, các ngành; đặc biệt quan tâm đến lợi ích của người dân tại khu vực di sản và chất lượng bảo tồn sau quá trình khai thác du lịch.
Đích đến cuối cùng không chỉ là con số 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế hay tỷ lệ đóng góp vào GDP. Thành công sâu sắc hơn phải được thể hiện ở việc du khách đến Việt Nam nhiều hơn, ở lại lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn và hiểu, yêu mến Việt Nam hơn; đồng thời, người dân được thụ hưởng thành quả phát triển và các giá trị di sản được bảo vệ tốt hơn để trao truyền nguyên vẹn, sống động cho các thế hệ mai sau.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!
