Nghịch lý đại học: Thi 2 điểm vẫn qua môn và 'vùng đệm an toàn giả tạo'

HNN.VN - Học chế tín chỉ được kỳ vọng là đòn bẩy nâng cao tính chủ động và chất lượng giáo dục đại học. Thế nhưng, một lỗ hổng trong cấu trúc đánh giá hiện nay đang dung túng cho thói lười biếng, khi sinh viên chỉ cần đạt 2-3 điểm thi cuối kỳ là có thể "hiên ngang" tích lũy tín chỉ thành công.

Tân sinh viên Trường ĐH Kinh tế, ĐH Huế tham gia buổi định hướng học tập đầu năm học mới (Ảnh minh họa). Ảnh: Trường ĐH Kinh tế.

Tân sinh viên Trường ĐH Kinh tế, ĐH Huế tham gia buổi định hướng học tập đầu năm học mới (Ảnh minh họa). Ảnh: Trường ĐH Kinh tế.

Tấm vé qua môn từ... điểm quá trình

Chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ theo Thông tư số 08/2021/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trao quyền tự chủ rất lớn cho các trường trong việc quy định cấu trúc điểm số. Nhằm giảm áp lực thi cử, nhiều trường đại học đã đẩy trọng số điểm quá trình (chuyên cần, bài tập nhóm, thảo luận) lên tới 50% - 60% tổng điểm học phần.

Về lý thuyết, điều này khuyến khích sinh viên học tập suốt học kỳ. Nhưng thực tế lại phơi bày một nghịch lý quản lý học thuật nghiêm trọng từ văn hóa chấm điểm "nương tay".

Điểm chuyên cần gần như được cào bằng ở mức tối đa 9.0 - 10 điểm chỉ cần sinh viên có mặt. Điểm bài tập lớn hay thảo luận nhóm lại mắc bệnh "ký sinh", khi sinh viên yếu kém chỉ cần "ăn theo" nhóm trưởng là dễ dàng có được mức điểm khá, giỏi từ 7.0 đến 9.0.

Hệ quả là, một sinh viên có năng lực trung bình - yếu nhờ "quỹ điểm" quá trình tích lũy lỏng lẻo này dễ dàng đạt mức 8.0 trước khi bước vào đợt thi cuối kỳ. Với cấu trúc điểm 50/50, áp dụng vào công thức tính điểm tổng kết, sinh viên này chỉ cần đạt vỏn vẹn 2.0 điểm trong bài thi cuối kỳ là đã thừa sức đạt điểm trung bình môn 5.0 để qua môn. Thậm chí, ở những trường quy định chuẩn đạt chỉ là 4.0 (điểm D), sinh viên chỉ cần đạt trên 0 điểm - tức là điền tên vào bài thi - là đã tích lũy tín chỉ thành công.

"Đoàn tàu lười biếng" và rủi ro mất giá trị bằng cấp

Hiện tượng "thi 2 điểm vẫn qua" đang tạo ra một "vùng đệm an toàn giả tạo", làm tiêu tán hoàn toàn động lực học tập chuyên sâu ở giai đoạn nước rút. Kỳ thi cuối kỳ vốn là chốt chặn để hệ thống hóa kiến thức, đo lường toàn diện năng lực cốt lõi thì nay bị xem nhẹ. Nó dung túng cho thói học đối phó, quay cóp, khiến kiến thức người học thu lượm được chỉ dừng lại ở bề nổi, thiếu khả năng vận dụng nâng cao.

Đây cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nạn lạm phát điểm số tại các trường đại học trong thập kỷ qua. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi tăng đột biến nhưng năng lực thực tế lại tỷ lệ nghịch. Tấm bằng đại học dần mất đi chức năng là bộ lọc đáng tin cậy, đẩy gánh nặng tài chính, chi phí sàng lọc và đào tạo lại sang vai trò của doanh nghiệp và xã hội.

Xa hơn, khi các đoàn kiểm định chất lượng quốc tế rà soát danh mục minh chứng, việc hàng loạt sinh viên có bài thi cuối kỳ yếu kém nhưng vẫn đạt chuẩn đầu ra sẽ là một "điểm trừ" rất lớn, bộc lộ sự thiếu nhất quán trong hệ thống bảo đảm chất lượng của nhà trường.

Một buổi học của tân sinh viên Trường ĐH Ngoại ngữ, ĐH Huế. Ảnh: H.Triều

Một buổi học của tân sinh viên Trường ĐH Ngoại ngữ, ĐH Huế. Ảnh: H.Triều

Tỷ lệ tốt nghiệp Khá, Giỏi, Xuất sắc cao: Dấu hiệu tích cực hay vấn đề cần xem xét?

Một hệ quả đáng lưu ý của cơ chế này là trong nhiều năm gần đây, báo cáo kết quả đào tạo của không ít cơ sở giáo dục đại học cho thấy tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đạt loại Khá, Giỏi, thậm chí Xuất sắc ở mức tương đối cao. Xét riêng về mặt số liệu, đây có thể được xem là một tín hiệu tích cực về kết quả đào tạo.

Tuy nhiên, nếu đặt trong bối cảnh điểm quá trình được phân bổ với tỷ trọng lớn, việc chấm điểm còn thiếu chuẩn hóa và ngưỡng kiểm soát đối với kết quả thi cuối kỳ chưa đủ chặt chẽ, thì tỷ lệ tốt nghiệp cao lại đặt ra một câu hỏi quan trọng về độ tin cậy của chính những con số này. Nói cách khác, tỷ lệ sinh viên đạt loại Khá, Giỏi, Xuất sắc cao không mặc nhiên đồng nghĩa với việc năng lực thực tế của người học cũng được nâng lên tương ứng.

Vấn đề cần được quan tâm không phải là làm giảm tỷ lệ sinh viên đạt kết quả cao, mà là phải xác định liệu những kết quả đó có phản ánh đúng năng lực, kiến thức, kỹ năng và khả năng vận dụng của người học hay không. Vì vậy, chất lượng thực tế của sinh viên sau tốt nghiệp cần được đánh giá lại thông qua những minh chứng độc lập hơn như năng lực đáp ứng chuẩn đầu ra, kết quả đánh giá bên ngoài, mức độ đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm, phản hồi của đơn vị sử dụng lao động và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Nếu khoảng cách giữa “thành tích trên bảng điểm” và “năng lực thực tế” ngày càng lớn, thì tỷ lệ tốt nghiệp Khá, Giỏi, Xuất sắc cao có thể trở thành một chỉ báo gây nhiễu thay vì phản ánh đúng chất lượng đào tạo.

Đâu là nguyên nhân cốt lõi?

Lỗ hổng này trước hết xuất phát từ việc thiếu quy định về "điểm sàn cuối kỳ" (rào cản tối thiểu). Khác với các hệ thống giáo dục tiên tiến quy định sinh viên phải đạt tối thiểu 40% - 50% số điểm bài thi cuối kỳ mới tiến hành cộng điểm thành phần, quy chế của nhiều trường đại học tại Việt Nam hiện nay chỉ quy định điểm liệt là dưới 1.0.

Bên cạnh đó, áp lực từ chỉ tiêu giữ chân sinh viên trong cơ chế tự chủ tài chính cũng khiến nhiều trường "thả lỏng". Việc tỷ lệ trượt môn quá cao sẽ dẫn đến sinh viên thôi học, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu học phí và các chỉ số báo cáo với Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đồng thời, công cụ đánh giá quá trình hiện nay cũng thiếu chuẩn hóa. Việc thiết kế các rubric chấm điểm của giảng viên còn mang tính cảm tính, dẫn đến hiện tượng lạm phát điểm quá trình để "vớt" sinh viên không bị trượt.

Trong khi các trường đại học quốc tế (như tại Anh, Mỹ) áp dụng quy tắc vạch ngưỡng (Threshold) khắt khe, bắt buộc phải đạt điểm tối thiểu ở bài thi viết cuối kỳ mới xét đạt, thì tại Việt Nam, phần lớn các trường vẫn đang thả lỏng rào cản này. Chỉ có một số ít trường khối kỹ thuật hàng đầu sớm nhận diện được nguy cơ và siết chặt quy định: bài thi cuối kỳ dưới 3.0 hoặc 4.0 điểm sẽ mặc nhiên nhận điểm F, bất kể điểm quá trình cao bao nhiêu.

 Sinh viên Trường ĐH Nông lâm, ĐH Huế tham gia nghiên cứu khoa học. Ảnh: H.Triều

 Sinh viên Trường ĐH Nông lâm, ĐH Huế tham gia nghiên cứu khoa học. Ảnh: H.Triều

Cần những "màng lọc kỹ thuật số" sòng phẳng

Để bảo vệ giá trị học thuật của tấm bằng đại học và đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực, các cơ sở giáo dục đại học không thể tiếp tục dung túng cho các quy chế lỏng lẻo nhằm đổi lấy các chỉ số đẹp về tỷ lệ tốt nghiệp. Một khung giải pháp đồng bộ và quyết liệt cần được triển khai ngay lập tức:

Một là, áp dụng cơ chế "điểm sàn học phần" vào quy chế nội bộ. Các trường cần quy định rõ bài thi kết thúc học phần phải đạt tối thiểu 4.0 điểm mới được xét cộng điểm quá trình. Nếu dưới mức này, điểm học phần tổng kết mặc nhiên bị quy về điểm F. Điều này thiết lập một "màng lọc an toàn học thuật", buộc sinh viên phải duy trì thái độ học tập nghiêm túc cho đến ngày thi cuối cùng.

Hai là, điều chỉnh linh hoạt trọng số đánh giá theo đặc thù môn học. Với các môn lý thuyết nền tảng, trọng số thi cuối kỳ phải chiếm tối thiểu 60% - 70%. Với môn thực hành hay dự án, điểm quá trình có thể cao nhưng sản phẩm cuối kỳ phải được bảo vệ sòng phẳng trước hội đồng gồm nhiều giảng viên để triệt tiêu hiện tượng "ký sinh nhóm".

Ba là, số hóa quy trình và tự động hóa giám sát học thuật bằng công nghệ. Các phần mềm quản lý đào tạo cần được cài đặt cấu trúc "cửa vách ngăn kỹ thuật số" (Digital Firewall). Hệ thống sẽ tự động khóa điểm tổng kết ở mức F nếu điểm cuối kỳ dưới sàn, loại bỏ hoàn toàn khả năng tác động hay "nương tay" thủ công của con người.

Đồng thời, ứng dụng học máy để tự động phát tín hiệu cảnh báo (Red flag) đối với các lớp học có hiện tượng lạm phát điểm quá trình (điểm quá trình cao ngất ngưỡng nhưng điểm thi cuối kỳ thấp đột biến) để tiến hành kiểm toán học thuật. Quy trình chấm thi cũng cần khép kín, liên thông dữ liệu và tự động khóa chức năng sửa điểm quá trình trước ca thi để đảm bảo tính minh bạch tuyệt đối.

Việc áp dụng điểm sàn bài thi cuối kỳ cùng với sự hỗ trợ của công nghệ không phải là gây khó dễ cho người học, mà là thể hiện trách nhiệm giải trình cao của nhà trường trước xã hội trong kỷ nguyên tự chủ đại học.

Tôn Long Hạ

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/giao-duc/nghich-ly-dai-hoc-thi-2-diem-van-qua-mon-va-vung-dem-an-toan-gia-tao-170293.html