Người 'giữ lửa truyền thống' trong Bảo tàng Binh chủng Đặc công
Trong không gian trưng bày của Bảo tàng Binh chủng Đặc công, mỗi hiện vật không chỉ là chứng nhân của các trận đánh oai hùng mà còn lưu giữ câu chuyện về những người lính đặc công đã chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc. Gắn bó với công việc tại bảo tàng, Thượng tá Nguyễn Văn Chinh hiểu rằng, giữ gìn những kỷ vật ấy cũng là giữ mạch nguồn truyền thống, để câu chuyện về lòng quả cảm, sự mưu trí và hy sinh của các thế hệ đi trước tiếp tục được truyền lại cho lớp cán bộ, chiến sĩ và thế hệ trẻ hôm nay.
Trưa một ngày giữa tháng 5, Bảo tàng Binh chủng Đặc công khá yên lặng khiến chúng tôi bất giác bước chậm lại, nói khẽ hơn, cảm giác như được chạm vào một miền ký ức lịch sử. Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày thống nhất đất nước, nhiều nhân chứng lịch sử không còn nhưng kỷ vật, hiện vật trong Bảo tàng vẫn vang lên thanh âm của ký ức chiến tranh, khát vọng hòa bình và đức hy sinh của các thế hệ Bộ đội Cụ Hồ.

Thượng tá Nguyễn Văn Chinh giới thiệu các hiện vật, tư liệu gắn với đồng chí Đỗ Văn Căn (Ba Mủ) tại không gian trưng bày của Bảo tàng.
Dẫn chúng tôi qua khu trưng bày tầng 1, Thượng tá Nguyễn Văn Chinh - Giám đốc Bảo tàng Binh chủng Đặc công dừng lại trước hiện vật gắn với đồng chí Đỗ Văn Căn (tức Ba Mủ). Trước mắt chúng tôi là chiếc xe 3 bánh và khối mủ cao su, nhìn qua rất bình thường nhưng chính trong những khối mủ ấy lại chứa đựng nhiều vũ khí từng được bí mật vận chuyển và cất giấu cho bộ đội ta.

Hình ảnh tư liệu về đồng chí Đỗ Văn Căn (Ba Mủ) trưng bày tại Bảo tàng.


Chiếc xe 3 bánh cùng khối mủ cao su có số đăng ký BTĐC 10/K3-5, C-1 mà đồng chí Đỗ Văn Căn đã dùng để hoạt động hợp pháp trong lòng địch và để chuyên chở vũ khí chuẩn bị cho các trận đánh của Biệt động Sài Gòn từ năm 1954-1975.
Thượng tá Chinh nhìn những hiện vật, chậm rãi nói: “Nhìn đơn giản vậy thôi, nhưng chính những vật dụng này đã được đồng chí Ba Mủ dùng để chở vũ khí cho các trận đánh Xuân 1968 và chuẩn bị cho thời cơ chiến lược sau này. Có những việc nếu không tận mắt thấy hiện vật, không nghe lại câu chuyện lịch sử, mình khó có thể hình dung hết sự hy sinh của các bác, các ông, thế hệ đi trước”…
Mỗi hiện vật là một câu chuyện “hùng tráng” của dân tộc
Từ những hiện vật gắn với đồng chí Ba Mủ - lực lượng Đặc công biệt động, câu chuyện về năm tháng chiến tranh dần được Thượng tá Nguyễn Văn Chinh chia sẻ. Qua lời kể của ông, những kỷ vật nằm sau lớp kính không còn là vật trưng bày, mà mở ra từng câu chuyện về sự gan dạ, mưu trí và sự hy sinh thầm lặng của các thế hệ đi trước.
Ông nhắc tới các hiện vật, kỷ vật gắn liền với các chiến sĩ biệt động như Năm Lai, Đoàn Thị Ánh Tuyết…; hay câu chuyện về khẩu súng tiểu liên K61 từng gắn với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Bá Ước - nguyên Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác, sau này được Anh hùng Lê Bá Ước trao tặng lại cho bảo tàng như một chứng tích lịch sử… Trong số kỷ vật ấy, cuốn nhật ký “Đường về” của liệt sỹ Phạm Thiết Kế khiến Thượng tá Nguyễn Văn Chinh đặc biệt xúc động. Liệt sỹ Phạm Thiết Kế quê ở Hòa Vang, Đà Nẵng, nhập ngũ năm 1953. Năm 1967, ông vào chiến trường miền Nam, chiến đấu trong đội hình Đoàn Đặc công 429, giữ cương vị Chính trị viên Đại đội 7, Tiểu đoàn 3. Năm 1970, ông hy sinh tại Mặt trận Tây Nguyên khi đang là Chính trị viên trưởng Tiểu đoàn 3.

Cuốn nhật ký Đường về của liệt sỹ Phạm Thiết Kế hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Binh chủng Đặc công.
Cuốn nhật ký dày gần 200 trang ghi lại hơn 840 ngày đêm hành quân, chiến đấu của liệt sỹ Phạm Thiết Kế và đồng đội, từ ngày 29/8/1967 đến 22/12/1969. Trong những trang viết có hình ảnh đôi chân phồng rộp sau những chặng đường dài, có tiếng máy bay, pháo sáng, có gian khổ, mất mát..., nhưng trên hết là niềm tin rất bền bỉ của người lính đặc công “chỉ tiến không lui”.

Những trang giấy đã úa màu theo năm tháng không chỉ lưu giữ hơn 840 ngày đêm hành quân, chiến đấu mà còn ghi lại những suy nghĩ, tình cảm và trách nhiệm của liệt sỹ Phạm Thiết Kế đối với Tổ quốc, đối với đồng đội.
Nhìn lại cuốn nhật ký, Thượng tá Chinh trải lòng: “Mỗi lần đọc những dòng nhật ký này, tôi lại thấy mình phải có trách nhiệm hơn với công việc đang làm hôm nay. Có những hiện vật nhìn qua rất đỗi bình thường, thế nhưng phía sau là cả một câu chuyện về lòng gan dạ, sự mưu trí và máu xương của thế hệ đi trước. Người làm bảo tàng như chúng tôi phải giữ được phần hồn ấy, để truyền thống “đặc công” không chỉ nằm sau lớp kính trưng bày mà còn tiếp tục được nhắc nhớ, được trao truyền”.
Bảo tàng Đặc công được thành lập năm 1977. Đến năm 1995 được xây dựng mới. Ngày 16/3/2000 bảo tàng được đưa vào sử dụng với diện tích trưng bày 1.400m². Hiện nơi đây có ba tầng trưng bày, giới thiệu hơn 2.000 hiện vật tiêu biểu trong tổng số hơn 6.000 hiện vật gốc đang được lưu giữ
Cách Thượng tá Nguyễn Văn Chinh dừng lại trước mỗi hiện vật, nhắc kỹ từng chi tiết nhỏ, khiến chúng tôi có cảm giác công việc ở bảo tàng với ông không chỉ là việc quản lý hay giữ gìn hiện vật mà còn là việc giữ lại ký ức của các lớp thế hệ binh chủng nơi mà ông đã gắn bó gần cả cuộc đời.
Thượng tá Nguyễn Văn Chinh quê ở Lương Tài, Bắc Ninh, là người lính trưởng thành từ Binh chủng Đặc công. Từ năm 1994 - 1998, ông học Trường Sĩ quan Đặc công, chuyên ngành sĩ quan đặc công bộ. Ra trường được một năm, ông học chuyển loại chính trị. Trải qua nhiều vị trí ở các đơn vị, rồi về công tác tại Phòng Tuyên huấn phụ trách mảng văn hóa - văn nghệ. Năm 2023, ông chuyển sang công tác tại Bảo tàng Binh chủng Đặc công và giữ cương vị Giám đốc.
Nhớ lại những ngày đầu về công tác tại bảo tàng, Thượng tá Nguyễn Văn Chinh cho biết, mặc dù trưởng thành từ Binh chủng Đặc công và hiểu rõ truyền thống của binh chủng, ông vẫn không tránh khỏi bỡ ngỡ khi tiếp cận một lĩnh vực mới. “Làm bảo tàng không chỉ là trưng bày hiện vật hay giữ hiện vật khỏi hư hỏng. Điều quan trọng hơn là làm sao để người xem hiểu được câu chuyện, ý nghĩa phía sau những kỷ vật ấy là gì...? Càng gắn bó, càng tìm hiểu sâu về di sản quân sự tôi càng cảm thấy tự hào và thêm yêu công việc này”, ông nói.
Để người trẻ hiểu phía sau “16 chữ vàng” là máu xương
Thượng tá Chinh cho rằng, bảo tàng không thể chỉ là nơi đặt hiện vật sau lớp kính. Người xem bước vào, nhìn hiện vật rồi đi ra mà không cảm được điều gì thì bảo tàng chưa làm hết vai trò của mình. Bởi vậy, người làm công tác bảo tàng luôn phải tìm cách để hình ảnh, hiện vật, kỷ vật chiến tranh trở thành những “biểu tượng sống”, truyền tải ý nghĩa lịch sử cho thế hệ hôm nay.

Thượng tá Nguyễn Văn Chinh cho rằng, điều khiến người xem dừng lại lâu nhất không chỉ là hiện vật sau lớp kính, mà là giá trị thật và cảm xúc thật trong những câu chuyện về lòng quả cảm, sự hy sinh của các thế hệ đặc công.
Theo Thượng tá Chinh, công việc ấy càng không dễ khi Bảo tàng Đặc công được xây dựng từ năm 1995, nhiều điều kiện trưng bày, bảo quản đã không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu hiện nay. Khí hậu miền Bắc nồm ẩm cũng khiến các hiện vật bằng giấy, vải, kim loại dễ hư hỏng nếu không được lưu giữ, bảo quản tốt. Vì vậy, cán bộ bảo tàng phải thường xuyên kiểm tra tủ trưng bày, rà soát hồ sơ hiện vật, theo dõi tình trạng bảo quản và chỉnh sửa nội dung thuyết minh. Những việc ấy nghe qua tưởng đơn giản, nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn và cả trách nhiệm của những người cán bộ bảo tàng.
Hiện nay, bảo tàng chủ yếu vẫn sử dụng phương thức thuyết minh truyền thống, dựa trên hình ảnh, hiện vật thật, hiện vật gốc để kể lại câu chuyện lịch sử. Song Binh chủng Đặc công cũng đang triển khai đề án cải tạo bảo tàng theo hướng bảo tàng số, ứng dụng công nghệ thông tin để việc giới thiệu truyền thống trở nên sinh động và gần hơn với người xem. Dù vậy, theo Thượng tá Chinh, công nghệ chỉ là phương tiện hỗ trợ. Điều khiến người xem dừng lại lâu nhất vẫn là giá trị thật của hiện vật và cảm xúc thật trong những câu chuyện được kể về lòng quả cảm và sự hy sinh của các thế hệ đặc công
Cũng như nhiều bảo tàng quân sự khác, hằng năm, Bảo tàng Binh chủng Đặc công đón các đoàn cán bộ, chiến sĩ trong binh chủng đến tham quan, học tập theo kế hoạch giáo dục truyền thống của đơn vị. Học viên Trường Sĩ quan Đặc công được tổ chức tới bảo tàng để nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử, truyền thống của binh chủng. Trong thời gian huấn luyện tân binh, chiến sĩ mới cũng được đưa về đây để nghe giới thiệu về truyền thống của Binh chủng Đặc công và lực lượng đặc công toàn quân.
Không chỉ là địa chỉ giáo dục truyền thống cho cán bộ, chiến sĩ, Bảo tàng Binh chủng Đặc công còn đón nhiều đoàn học sinh, sinh viên và người dân đến tham quan.
“Với nhiều người lần đầu nghe về bộ đội đặc công, điều gây ấn tượng mạnh nhất là những câu chuyện tưởng như không thể xảy ra, nhưng đã trở thành sự thật trên chiến trường như: trận đánh khu kho 53 thuộc Tổng kho Long Bình, căn cứ hậu cần chiến lược lớn của Mỹ ở miền Nam lúc bấy giờ. Khu vực này được bảo vệ nghiêm ngặt bằng nhiều lớp rào chắn, vọng gác, tuần tra, tưởng như khó có thể tiếp cận. Thế nhưng, bằng cách đánh bí mật, táo bạo, lực lượng đặc công vẫn vượt qua hệ thống phòng thủ, đặt mìn hẹn giờ, phá hủy một khối lượng lớn bom đạn của địch; Hay trận tập kích Kho xăng Nhà Bè năm 1973 của Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác. Đây là kho xăng trọng yếu, được bảo vệ nhiều lớp, cả trên bộ, dưới nước và trên không. Sau thời gian dài trinh sát, chuẩn bị, tám chiến sĩ đặc công đã bí mật thâm nhập, đặt thuốc nổ vào mục tiêu. Rạng sáng 3/12/1973, kho xăng Nhà Bè nổ lớn, lửa cháy suốt nhiều ngày, làm rung chuyển hệ thống cung ứng xăng dầu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn”, Thượng tá Chinh kể.



Những hiện vật gắn với lực lượng bộ đội đặc công được trưng bày tại Bảo tàng Binh chủng Đặc công. Sau lớp kính trưng bày là ký ức về những trận đánh bí mật, táo bạo và tinh thần “đặc biệt tinh nhuệ - anh dũng tuyệt vời - mưu trí táo bạo - đánh hiểm thắng lớn”.
Cũng theo ông, những câu chuyện ấy, với người trẻ hôm nay, không chỉ để biết thêm về một trận đánh hay một chiến công. Điều quan trọng hơn là để các em hiểu rằng 16 chữ vàng truyền thống của Binh chủng Đặc công không tự nhiên mà có. “Phía sau những chữ “đặc biệt tinh nhuệ”, “anh dũng tuyệt vời”, “mưu trí táo bạo”, “đánh hiểm thắng lớn” là những người lính đã âm thầm đi vào nơi nguy hiểm nhất, nhận những nhiệm vụ khó khăn nhất, có người trở về, có người mãi mãi nằm lại.
“Bởi vậy, mỗi lần thuyết minh trước cán bộ, chiến sĩ trẻ hay người dân, cán bộ bảo tàng không chỉ kể lại chiến công. Chúng tôi cố gắng làm rõ cái giá phía sau chiến công ấy: mồ hôi, máu xương, trí tuệ, lòng quả cảm và cả sự hy sinh thầm lặng của nhiều thế hệ đặc công. Chỉ khi hiểu được điều đó, 16 chữ vàng mới không còn là khẩu hiệu treo trên tường, mà trở thành niềm tự hào và trách nhiệm được trao lại cho thế hệ hôm nay”, vị Thượng tá nói.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng ký ức về nó không thể ngủ quên. Việc bảo tồn và trưng bày các hiện vật chiến tranh tại Bảo tàng không chỉ đơn thuần là công việc lưu trữ mà đó là trách nhiệm lịch sử, là một sợi dây nối liền quá khứ với hiện tại và tương lai.











