Người Trung Quốc xưa nói “đeo 10.000 xâu tiền bên hông”: Khối tài sản ấy lớn đến đâu?

Một xâu tiền thời Trung Quốc cổ đại có thể nặng hơn 3 kg, trong khi thu nhập giữa quan lại và dân thường chênh lệch rất lớn. Từ giá một căn nhà sang thời Bắc Tống đến tiền lương chỉ đủ mua 2 kg thịt lợn dưới triều Thanh, những con số hé lộ cách người xưa đo lường sự giàu có.

Từ bao đời nay, văn hóa Trung Quốc đã sử dụng cụm từ “mang vạn tiền quanh eo” để tượng trưng cho sự giàu có không tưởng. Ảnh: ifeng.

Từ bao đời nay, văn hóa Trung Quốc đã sử dụng cụm từ “mang vạn tiền quanh eo” để tượng trưng cho sự giàu có không tưởng. Ảnh: ifeng.

Trong xã hội Trung Quốc cổ đại, thương nhân từng bị xếp dưới cả học giả và nông dân trong trật tự xã hội. Thế nhưng, không ít người làm giàu nhờ buôn bán vẫn được hậu thế nhớ đến. Vậy câu nói “đeo bên hông mười nghìn xâu tiền” (eo quấn vạn quán, hay mang vạn tiền quanh eo) thực sự chỉ khối tài sản lớn đến mức nào?

Người Trung Quốc có câu “yāo chán wàn guàn”, nghĩa là “đeo bên hông mười nghìn xâu tiền”, dùng để miêu tả sự giàu có. Nhưng một xâu tiền khi ấy có giá trị ra sao, và với số tiền đó, người ta có thể mua được những gì?

Một xâu tiền nặng tới vài kg

“Quán” (guan) là đơn vị tính tiền truyền thống của Trung Quốc. Tên gọi này vốn chỉ sợi dây dùng để xâu các đồng tiền lại với nhau, xuất hiện cùng loại tiền đồng hình tròn, đục lỗ vuông ở giữa. Loại tiền này được sử dụng từ thời nhà Tần (221-206 trước Công nguyên).

Thông thường, một quán tương đương một xâu gồm 1.000 đồng tiền bằng đồng hoặc đồng đỏ, gọi là “văn” (wen).

Vào thời nhà Hán (202 trước Công nguyên-220), 1.000 đồng tiền nặng khoảng 3-4 kg. Đến thời nhà Đường (618-907), trọng lượng tiền xu được tiêu chuẩn hóa, và một quán nặng khoảng 3,2 kg.

Từ cuối thời nhà Đường đến thời nhà Tống (960-1279), tình trạng thiếu đồng khiến chính quyền quy định mỗi quán chỉ còn 770 đồng tiền. Tuy nhiên, việc sử dụng đồng thời nhiều loại tiền tệ dưới thời nhà Tống khiến giá trị hàng hóa và tiền bạc trong giai đoạn này đặc biệt khó xác định chính xác.

Một quán tiền mua được những gì?

Sức mua của một quán tiền thay đổi đáng kể tùy theo từng triều đại và tình hình kinh tế. Trong những giai đoạn thịnh vượng như thời nhà Tống, một quán có thể mua được 8 con cá cùng một bộ quần áo may sẵn.

Với người bán hàng rong hoặc thợ thủ công bình thường, kiếm được một quán tiền có thể mất khoảng 10 ngày.

Thu nhập của quan lại nhà Tống cao hơn đáng kể. Một tể tướng có thể nhận 300 quán mỗi tháng, trong khi một viên quan huyện cấp thấp nhất tại một huyện nhỏ cũng có thể kiếm được 12 quán mỗi tháng. Ngoài tiền lương, quan lại còn được cấp thêm các khoản hoặc hiện vật hỗ trợ như vải vóc, bông và lương thực.

Bao Chửng, vị quan nổi tiếng thanh liêm trong lịch sử Trung Quốc, được cho là từng kiêm nhiệm ba chức vụ khi làm quan tại Khai Phong, kinh đô của triều Bắc Tống. Nhờ nhận lương từ cả ba chức vụ, thu nhập của ông có thể lên tới 20.000 quán mỗi năm, chưa kể nhiều khoản đãi ngộ khác.

Trong khi đó, vào thời Bắc Tống, một căn nhà sang trọng tại kinh đô có thể có giá tới 5.000 quán.

Đặt cạnh mức thu nhập của một quan chức cấp cao, giá căn nhà này có vẻ không quá lớn nếu so với cách chúng ta nhìn nhận giá nhà và thu nhập ngày nay. Tuy nhiên, đây chỉ là phép so sánh tương đối, bởi giá trị đồng tiền, mức sống và cơ cấu thu nhập giữa hai thời kỳ rất khác nhau.

Tiền mất giá, bạc dần thay thế tiền đồng

Tiền giấy bắt đầu xuất hiện từ thời nhà Tống và trở nên phổ biến hơn dưới triều Nguyên (1271-1368). Tuy nhiên, khi tiền giấy được sử dụng rộng rãi, lạm phát làm sức mua của đồng tiền suy giảm, khiến một quán tiền dần trở nên kém giá trị.

Đến thời Minh (1368-1644) và Thanh (1644-1912), bạc trở thành phương tiện thanh toán chủ yếu. Một lượng bạc có giá trị tương đương khoảng 1-1,2 quán tiền xu.

Dưới triều Thanh, mức lương tháng của một lao động bình thường chỉ vào khoảng 0,2 quán, đủ mua khoảng 2 kg thịt lợn. Khoảng cách này cho thấy sức mua của tiền tệ và mức sống có thể thay đổi rất lớn qua các thời kỳ lịch sử.

Những thương nhân giàu có vẫn được hậu thế nhớ tên

Câu nói “đeo bên hông mười nghìn xâu tiền” được cho là bắt nguồn từ một cuốn tiểu thuyết viết vào thời nhà Lương (502-557). Trong tác phẩm, một người đàn ông dùng câu nói này để bày tỏ khát vọng trở nên giàu có.

Dù thương nhân từng bị xếp gần cuối trong trật tự xã hội truyền thống, dưới học giả và nông dân, một số người vẫn vươn lên sở hữu khối tài sản khổng lồ và để lại dấu ấn trong lịch sử Trung Quốc.

Những cái tên tiêu biểu gồm Phạm Lãi, sống vào thế kỷ V trước Công nguyên; Lã Bất Vi, sống vào thế kỷ III trước Công nguyên; và Thẩm Vạn Tam, một thương nhân nổi tiếng sống vào giai đoạn chuyển tiếp giữa hai triều Nguyên và Minh.

Theo SCMP

Huyền Chi

Nguồn VietTimes: https://viettimes.vn/nguoi-trung-quoc-xua-noi-deo-10000-xau-tien-ben-hong-khoi-tai-san-ay-lon-den-dau-post207733.html