Người xây dựng thực lực cho Phong trào Duy tân

ĐNCT - Phan Thúc Duyện (1873-1944), hiệu Phong Thử, tự My Sanh, sinh tại làng Phong Thử, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nông dân đông anh em. Người dân thường gọi ông là cử Diện hoặc cử Phong Thử. Ông học tại trường Đốc Quảng Nam, đỗ thứ sáu trong khoa thi Hương năm Canh Tý 1900, cùng khoa với Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến.

Phan Thúc Duyện (1873 - 1944). Ảnh: Tư liệu

Phan Thúc Duyện (1873 - 1944). Ảnh: Tư liệu

Sau khi đỗ cử nhân, ông không theo đường quan chức mà trở về quê, nghiên cứu tân thư và kết giao với những người cùng chí hướng.

Gia đình ông về sau có người con trai là Phan Mính, được đào tạo kỹ sư tại Pháp, đã đứng ra xin trả tự do cho cha sau những năm bị đày ở Côn Đảo. Cuộc đời ông vì thế gắn với cả nền học vấn truyền thống và sự chuyển hướng sang thực nghiệp, kỹ thuật mới.

Con đường thực nghiệp

Phong trào Duy tân ở Quảng Nam được hình thành bởi một mạng lưới sĩ phu có chung khát vọng canh tân nhưng đảm nhận những công việc khác nhau. Phan Châu Trinh nổi bật trong việc truyền bá tư tưởng dân quyền, phê phán nền học cũ và vận động cải cách xã hội. Huỳnh Thúc Kháng tham gia cổ động tân học và phát triển các cơ sở giáo dục. Trần Quý Cáp thúc đẩy đổi mới việc dạy học, truyền bá chữ Quốc ngữ, tổ chức diễn thuyết và kết nối các trường. Lê Cơ thực hành cải cách tại Phú Lâm, xây dựng trường học và các tổ chức sản xuất, buôn bán.

Trong mạng lưới ấy, Phan Thúc Duyện nổi bật ở khả năng tổ chức kinh tế, tạo nguồn lực vật chất để công cuộc canh tân đi vào đời sống.

Vai trò của Phan Thúc Duyện tại Hội An có chứng cứ đương thời rõ ràng. Trong Trung Kỳ dân biến thỉ mạt ký, mục “Giải tán hội buôn”, Phan Châu Trinh ghi hội buôn Quảng Nam đặt tại Hội An, do Nguyễn Toản và cử nhân Phan Diện làm chủ. Phan Diện chính là Phan Thúc Duyện.

Ở phần phê bình bản án, tác giả ghi hội buôn được lập năm 1905, gần Tòa sứ, hoạt động công khai và có sự biết đến của nhà chức trách. (Một số nghiên cứu sau này nêu đầu năm 1906). Dù còn chênh lệch niên đại, lời chứng của Phan Châu Trinh xác nhận ông trực tiếp đứng tên làm chủ một cơ sở thương mại quan trọng.

Theo Nguyễn Văn Xuân, thương cuộc thuê căn nhà rộng trên đường Chùa Cầu, phía sau có gác. Nguyễn Toản đặc trách, Mai Tảo, người Thanh Hà, thường gọi Học Tảo, trực tiếp quản lý. Cơ sở bán sỉ và bán lẻ vải, gạo, đường, quế, tơ; cung ứng cau khô, đường mắt tre, dầu phụng cho ghe buôn đưa về các chợ thôn quê.

Hàng hóa được phân loại, giá ghi trên thẻ tre, nhân viên dùng sổ tay theo dõi xuất nhập, kho phân biệt bằng chữ A, B, C. Nước mắm Nam Ô đã được đóng chai, dán nhãn. Những chi tiết ấy cho thấy cách tổ chức hãng buôn có phân công và kiểm soát, một bước tiến đáng kể trong hoạt động thực nghiệp của các sĩ phu.

Tại quê nhà, Phan Thúc Duyện thành lập Hợp thương Diên Phong khoảng cuối năm 1906, liên kết với thương cuộc Hội An. Vải, tơ, đường, đậu, mè, dầu phụng từ vùng sản xuất được chuyển xuống; nước mắm, muối, vải và dầu hỏa được đưa về phục vụ nông thôn. Đây là cách kết nối đầu ro cho sản vật với nhu cầu tiêu dùng của người dân.

Những người tổ chức vừa học hỏi thương nhân người Hoa vừa cạnh tranh với họ; thương cuộc cũng giao dịch với khách Trung Hoa. Tinh thần doanh nhân của ông thể hiện ở việc tiếp thu kinh nghiệm, tổ chức nguồn hàng và xây dựng vị trí trên thị trường.

Nguyễn Văn Xuân ghi nhận Diên Phong có khoảng 40 nhân viên, gồm người lo sổ sách, hàng hóa và lao công. Theo lời hậu duệ được Huỳnh Văn Mỹ ghi lại, hội thương giúp dân có nơi bán sản vật, mua hàng thiết yếu thuận lợi; lợi nhuận được dùng cho trường học và hoạt động của phong trào.

Từ những việc ấy có thể thấy Phan Thúc Duyện xây dựng thực lực bằng cách liên kết người, vốn và hàng hóa. Kinh doanh vừa cải thiện dân sinh vừa tạo điều kiện duy trì những công việc chung.

Hành trình tiếp nối chí canh tân

Giáo dục gắn chặt với hoạt động kinh tế. Phan Thúc Duyện tham gia sáng lập, quản lý và giảng dạy tại trường Diên Phong, với sự cộng tác của Trần Quý Cáp, Mai Dị, Phan Thành Tài. Trường không thu học phí, tự định chương trình; học sinh tiếp cận kiến thức thường thức, địa lý, lịch sử, hình học và đại số. Người lớn được nghe diễn giảng từ tân thư.

Thương hội và trường học bổ sung cho nhau: một bên tạo nguồn lực, một bên nâng năng lực nhận thức. Thương cuộc Hội An cũng bán sách mới, bản đồ, bút mực và trở thành nơi gặp gỡ của sĩ phu hưởng ứng Duy tân.

Cuộc đàn áp của thực dân Pháp và Nam triều năm 1908 phá vỡ những cơ sở đang phát triển. Trong Thi tù tùng thoại, Huỳnh Thúc Kháng ghi những người cùng bị phát ra Côn Lôn với mình gồm Phan Thúc Duyện, Nguyễn Thành, Lê Bá Trinh, Trương Bá Huy, Dương Phụ Thạch, Hương Cảnh và Hương Quần: tổng cộng tám người kể cả tác giả.

Phan Châu Trinh cũng bị đày ra đảo trong năm ấy, nhưng thuộc một đợt khác. Trần Quý Cáp bị xử tử tại Khánh Hòa, không bị đày Côn Đảo. Nguyễn Toản được Phan Châu Trinh ghi là tuổi cao, được miễn nghị.

Phan Thúc Duyện ở Côn Đảo khoảng 11 năm, đến năm 1919 được trả tự do nhưng phải an trí tại Quảng Bình. Ông tiếp tục khai phá, canh tác; về sau trở lại quê nhà, tham gia xây dựng chợ, đường sá và các công trình sinh hoạt cộng đồng. Sự bền bỉ ấy cho thấy thực nghiệp là phương hướng hoạt động xuyên suốt cuộc đời ông.

Đặt đúng trọng lượng vào những đóng góp này, có thể nhìn nhận Phan Thúc Duyện là một nhân vật chủ chốt của phong trào Duy tân: người tạo cơ sở kinh tế, tổ chức việc học và kết nối nguồn lực xã hội, đưa khát vọng canh tân thành những công việc có ích trực tiếp cho dân chúng.

LÊ MINH DƯƠNG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/nguoi-xay-dung-thuc-luc-cho-phong-trao-duy-tan-3356383.html