Nguyễn Văn Tú – kỹ sư cơ khí tài năng ít người biết của Đại Việt

Vào thế kỷ XVIII, một người thợ Việt đã sang Hà Lan học nghề và trở về chế tạo đồng hồ, kính thiên lý với độ chính xác đáng kinh ngạc.

Khi nhắc đến những người có đóng góp cho sự tiếp nhận khoa học và kỹ thuật phương Tây ở Việt Nam thời trung đại, người ta thường nhớ tới các giáo sĩ, học giả hoặc những nhân vật nổi tiếng như Lê Quý Đôn. Thế nhưng, trong những trang ghi chép của chính Lê Quý Đôn lại xuất hiện một nhân vật đặc biệt: Nguyễn Văn Tú, một người thợ ở Đàng Trong từng sang Hà Lan học nghề và sau đó trở thành người có khả năng chế tạo đồng hồ, kính thiên lý rất thành thạo.

Nguyễn Văn Tú được Lê Quý Đôn ghi lại trong Phủ biên tạp lục, tác phẩm được biên soạn vào thế kỷ XVIII khi ông có dịp tìm hiểu khá kỹ về Đàng Trong. Theo ghi chép này, Nguyễn Văn Tú quê ở xã Đại Hào, huyện Đăng Xương. Khi còn trẻ, ông từng sang “nước Hòa Lan”, tức Hà Lan, học nghề trong hai năm. Sau thời gian này, ông nắm được kỹ thuật chế tạo nhiều loại đồng hồ và đặc biệt giỏi làm kính thiên lý.

Điều đáng chú ý là chuyến đi của Nguyễn Văn Tú không đơn thuần mang ý nghĩa học nghề thủ công. Vào thời điểm ấy, cơ khí chính xác của châu Âu đã đạt trình độ mà kỹ thuật truyền thống ở Đông Á khó có thể tiếp cận trực tiếp. Đồng hồ cơ học đòi hỏi người chế tạo phải hiểu nguyên lý truyền động, bánh răng, trục, dây dẫn động, cơ cấu điều khiển và sự phối hợp chính xác giữa nhiều bộ phận. Vì vậy, việc một người thợ Việt có thể sang Hà Lan học nghề rồi trở về tự chế tạo đồng hồ cho thấy khả năng tiếp thu kỹ thuật nước ngoài của người Việt cao đáng ngạc nhiên.

Ảnh minh họa AI.

Ảnh minh họa AI.

Một trong những câu chuyện đáng chú ý nhất về Nguyễn Văn Tú liên quan đến một chiếc đồng hồ Tây phương đặt tại Thiên Văn nội viện. Khi chiếc đồng hồ bị hỏng, người trong phủ tìm người có khả năng sửa chữa. Theo Phủ biên tạp lục, Nguyễn Văn Tú đã nhận sửa và chỉ trong khoảng mười ngày đã hoàn thành công việc. Không dừng lại ở việc sửa chữa, ông còn tự chế tạo một chiếc đồng hồ khác theo nguyên lý tương tự nhưng được giản lược một số bộ phận.

Chiếc đồng hồ do Nguyễn Văn Tú chế tạo được Lê Quý Đôn mô tả khá cụ thể. Ông đã bỏ bớt năm bánh xe và sáu quả chuông nhỏ, đồng thời điều chỉnh cơ cấu để đồng hồ chỉ đánh giờ. Khi đem đối chiếu với bóng Mặt Trời, chiếc đồng hồ được nhận xét là chạy rất đúng, gần như không sai lệch.

Đây có lẽ là chi tiết quan trọng nhất để hình dung tài năng kỹ thuật của Nguyễn Văn Tú. Ông không chỉ biết “làm theo” một sản phẩm phương Tây mà còn có khả năng tháo hiểu cấu trúc, lựa chọn những bộ phận cần thiết rồi thay đổi thiết kế để tạo ra một phiên bản phù hợp với mục đích sử dụng. Nếu nhìn bằng con mắt của kỹ thuật cơ khí hiện đại, đây chính là một dạng năng lực thiết kế và cải tiến máy móc.

Kính thiên lý cũng là một thành tựu đáng chú ý. Những dụng cụ quang học kiểu kính viễn vọng đã mở ra khả năng quan sát những vật thể ở khoảng cách rất xa và gắn liền với sự phát triển của thiên văn học châu Âu. Việc Nguyễn Văn Tú có thể chế tạo loại kính này cho thấy ông không chỉ tiếp thu kỹ thuật gia công cơ khí mà còn phải nắm được những nguyên lý nhất định liên quan đến thấu kính và quang học.

Điều đặc biệt hơn nữa là Nguyễn Văn Tú dường như không giữ kiến thức cho riêng mình. Lê Quý Đôn cho biết khi đã 74 tuổi, mắt Nguyễn Văn Tú vẫn sáng như thời trẻ. Em trai ông là Văn Thi, con trai là Văn Duy và con rể là Lương Văn Dũng đều biết nghề. Chi tiết này cho thấy kỹ thuật chế tạo đồng hồ và kính đã được truyền lại trong gia đình, tạo thành một dòng truyền nghề tương đối đặc biệt trong lịch sử kỹ thuật Việt Nam.

Nguyễn Văn Tú xuất hiện trong một giai đoạn mà những kỹ thuật mới từ châu Âu bắt đầu có ảnh hưởng rõ rệt ở Việt Nam. Các nguồn tổng thuật lịch sử kỹ thuật cho biết từ thế kỷ XVIII, một số kỹ thuật tiên tiến của phương Tây đã du nhập vào nước ta; bên cạnh nghề chế tạo đồng hồ và kính thiên lý của Nguyễn Văn Tú, về sau các thợ thủ công dưới triều Nguyễn còn chế tạo máy xẻ gỗ chạy bằng sức nước và thử nghiệm tàu thủy chạy bằng máy hơi nước.

Tuy nhiên, gọi Nguyễn Văn Tú là “kỹ sư cơ khí” cần được hiểu theo nghĩa ví von, bởi khái niệm kỹ sư với hệ thống đào tạo và nghề nghiệp hiện đại chưa tồn tại ở Việt Nam thời ông. Các tư liệu cổ gọi ông là người thợ kính, hay người thợ có tay nghề đặc biệt. Dẫu vậy, nếu xét ở góc độ năng lực thực hành, sửa chữa, thiết kế và chế tạo máy móc chính xác, ông thực sự là một trong những nhân vật đáng chú ý trong lịch sử kỹ thuật Việt Nam.

Có lẽ điều khiến Nguyễn Văn Tú ít được biết đến ngày nay chính là việc tên tuổi ông chỉ xuất hiện khá ngắn gọn trong một công trình của Lê Quý Đôn. Không có những trước tác khoa học đồ sộ, cũng không để lại một trường phái kỹ thuật mang tên mình. Nhưng câu chuyện về ông lại cho thấy một điều rất đáng suy ngẫm: trong xã hội Đại Việt thế kỷ XVIII, đã có những người Việt chủ động vượt khỏi khuôn khổ kỹ thuật truyền thống, đi tới châu Âu học nghề, trở về rồi tự mình sửa chữa và chế tạo những thiết bị cơ khí, quang học phức tạp.

Nguyễn Văn Tú vì thế có thể được xem như một biểu tượng nhỏ nhưng giàu ý nghĩa của quá trình giao lưu kỹ thuật Đông – Tây. Từ những bánh răng nhỏ bé bên trong một chiếc đồng hồ cho đến chiếc kính hướng về những vật thể ở đường chân trời, câu chuyện của ông cho thấy lịch sử khoa học Việt Nam không chỉ được tạo nên bởi các nhà bác học nổi tiếng, mà còn bởi những người thợ âm thầm dùng đôi tay để biến tri thức thành máy móc và sản phẩm cụ thể.

-----------------------

Tài liệu tham khảo:

Phủ biên tạp lục / Lê Quý Đôn

Xem video: Bộ cửu đỉnh triều Nguyễn - một trong những bảo vật độc đáo của Cố đô Huế.

Thanh Bình

Nguồn Tri Thức & Cuộc Sống: https://kienthuc.net.vn/nguyen-van-tu-ky-su-co-khi-tai-nang-it-nguoi-biet-cua-dai-viet-post1633440.html