Nhà cổ trấn Sơn Nam trong mạch nguồn di sản văn hóa Ninh Bình

Nhắc đến Sơn Nam là nhắc đến một miền đất rộng lớn ở phía nam kinh thành Thăng Long trong lịch sử. Phạm vi địa giới thay đổi qua các thời kỳ, nhưng tên gọi ấy vẫn được lưu lại trong ký ức văn hóa của cư dân đồng bằng Bắc Bộ. Vùng Hà Nam trước đây thuộc không gian Sơn Nam Thượng, nơi đời sống làng xã được bồi đắp qua quá trình khai phá đất đai, phát triển nghề nghiệp và mở rộng giao thương.

Không gian vùng trấn Sơn Nam xưa lưu giữ nhiều nét đặc trưng của vùng đồng bằng sông Hồng.

Không gian vùng trấn Sơn Nam xưa lưu giữ nhiều nét đặc trưng của vùng đồng bằng sông Hồng.

Lễ hội Đọi Sơn- một lễ hội truyền thống đặc sắc của vùng đất Sơn Nam thượng.

Lễ hội Đọi Sơn- một lễ hội truyền thống đặc sắc của vùng đất Sơn Nam thượng.

Vị trí ấy tạo nên một miền đất vừa mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước, vừa sớm mở ra những mối giao lưu kinh tế, văn hóa. Hệ thống sông Hồng, sông Châu, sông Đáy và các tuyến đường thủy cổ đã bồi đắp phù sa, nuôi dưỡng làng xóm, đồng ruộng, đồng thời đưa cư dân nơi đây tiếp xúc với nhiều vùng đất. Trong quá trình khai phá và lập làng, người dân xây đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ họ và nhà ở, tạo nên một cấu trúc cư trú ổn định, bền chặt.

Trong cấu trúc làng truyền thống, ngôi nhà có quan hệ chặt chẽ với không gian chung. Nhà nằm sau cổng, quay về sân, gắn với vườn, ao, bếp, nhà ngang; đường ngõ nối các gia đình, dòng họ với đình, chùa và ruộng đồng. Cách tổ chức ấy phản ánh một đời sống mà gia đình có không gian riêng nhưng vẫn gắn bó mật thiết với làng.

Kiến trúc đặc sắc của những ngôi nhà cổ trấn Sơn Nam vẫn được người dân lưu giữ đến ngày nay.

Kiến trúc đặc sắc của những ngôi nhà cổ trấn Sơn Nam vẫn được người dân lưu giữ đến ngày nay.

Ở tổ dân phố Đôn Lương, phường Đồng Văn, lịch sử ngôi nhà gắn trực tiếp với lịch sử nghề mộc. Trong diện mạo làng đang đổi thay, những nếp nhà gỗ còn lại lưu giữ bằng chứng về tay nghề và đời sống của một cộng đồng từng nổi tiếng làm nhà cổ truyền.

Ngôi nhà của gia đình ông Nguyễn Hữu Thìn, tổ dân phố Đôn Lương, phường Đồng Văn có ba gian, hai dĩ, dựng theo kiểu kẻ truyền. Trên thượng lương còn ghi lần trùng tu dưới triều Thành Thái. Đây là mốc tu sửa, không phải căn cứ để đồng nhất với năm khởi dựng; nhưng đủ cho thấy công trình đã được các thế hệ chăm lo từ hơn một thế kỷ trước.

Ông Thìn năm nay 92 tuổi, thuộc đời thứ 14 của dòng họ Nguyễn Hữu có gốc từ Thanh Hóa. Theo lời ông kể, người ông nội làm nghề mộc đã dành tâm huyết tạo dựng ngôi nhà. Qua câu chuyện gia đình, có thể hình dung một cách trao truyền đặc biệt: tài nghệ của người thợ được giữ lại ngay trong nơi ở, để con cháu sống cùng thành quả lao động của người trước.

Cách so sánh trong hồi ức của ông Thìn cho thấy niềm tự hào và vị thế của nghề mộc trong một thời kỳ. Còn trên những bộ khung gỗ, kỹ thuật của người thợ vẫn có thể được tìm hiểu qua từng cấu kiện. Cột, xà, kẻ, bẩy, câu đầu, vì nóc được tính toán trong một hệ kết cấu. Các mối mộng đòi hỏi độ chính xác để những bộ phận riêng rẽ phối hợp chịu lực. Trên cấu kiện, đường soi, nét chạm tạo sự mềm mại mà vẫn giữ được chức năng. Có ngôi nhà trang trí cầu kỳ, có công trình chỉ nhấn ở một vài vị trí; sự khác nhau cho thấy điều kiện kinh tế, quan niệm thẩm mỹ của gia chủ và dấu ấn của từng nhóm thợ.

Tại làng lụa Nha Xá, phường Duy Tân, lịch sử lại hiện lên qua sự kết hợp giữa nghề dệt lụa và kiến trúc giao thoa Đông Tây. Theo các tài liệu lịch sử, nghề dệt lụa tại Nha Xá được khởi nguồn từ thời nhà Trần vào cuối thế kỷ thứ 13, đầu thế kỷ 14, do danh tướng Trần Khánh Dư truyền dạy. Những năm 1920- 1940 của thế kỷ 20, Nha Xá từng là một làng nghề dệt lụa nức tiếng. Sự phát triển mạnh mẽ của làng nghề tạo điều kiện để một bộ phận gia đình tích luỹ kinh tế, đồng thời mở rộng giao thương với bên ngoài.

Nhiều hộ gia đình ở Nha Xá vẫn đang duy trì, bảo tồn và phát triển nghề dệt lụa truyền thống của địa phương.

Nhiều hộ gia đình ở Nha Xá vẫn đang duy trì, bảo tồn và phát triển nghề dệt lụa truyền thống của địa phương.

Và những thay đổi ấy được phản ánh rõ nét ngay trong kiến trúc với những căn nhà mang dáng dấp biệt thự Pháp, hài hòa với những giá trị thuần Việt được xây dựng, minh chứng cho một thời kỳ hưng thịnh. Một trong những biệt thự cổ còn khá nguyên vẹn thuộc về sở hữu của gia đình ông Phạm Khắc Tiệp, tổ dân phố Nha Xá, phường Duy Tân. Căn biệt thự 2 tầng, được xây dựng vào năm 1930. Đến nay, gia đình vẫn còn giữ được nguyên vẹn bản thiết kế do kiến trúc sư người Pháp vẽ. Điều đặc biệt, diện tích ngôi nhà tuy không lớn nhưng được thiết kế hài hoà với sàn gạch đỏ, cầu thang gỗ mang lối kiến trúc cổ điển Châu Âu, cùng nhiều nét văn hóa Á Đông hiện diện. Bởi thế mà hơn 95 năm trôi qua, các thế hệ gia đình ông Tiệp vẫn sinh sống trong ngôi nhà mà không phải sửa chữa quá nhiều.

Hiện nay ở Nha Xá còn lưu giữ được khoảng 10 ngôi nhà cổ mang kiến trúc Pháp, có tuổi đời cả trăm năm. Cũng như nhiều ngôi nhà cổ khác, sự khắc nghiệt của thời gian và nhu cầu của người dân đã khiến cho những công trình ở đây xuống cấp, trở thành nỗi trăn trở, khắc khoải. Mỗi người đều cố gắng bằng mọi cách giữ lại nếp nhà bởi đó không chỉ là minh chứng cho sự thăng hoa của làng nghề mà còn là niềm tự hào to lớn về thành quả lao động của các bậc tiền nhân.

Cổng làng Nha Xá.

Cổng làng Nha Xá.

Những ngôi nhà cổ còn lưu giữ vùng Trấn Sơn Nam cho thấy văn hóa vùng đất được hình thành bằng cả sự kế thừa và tiếp nhận. Nhà gỗ lưu giữ kỹ thuật cổ truyền; biệt thự ghi dấu sự phát triển giao thương và lựa chọn mới của chủ nhân. Chúng cùng phản ánh năng lực tạo dựng, thích ứng của cư dân Sơn Nam trong những điều kiện lịch sử khác nhau.

Trong văn hóa Việt, “nếp nhà” gắn với nền nếp sống được vun đắp qua nhiều thế hệ. Ngôi nhà lưu dấu công sức tạo dựng của người trước; cách thờ cúng tổ tiên, sum họp gia đình, đối đãi với họ hàng lại cho thấy những giá trị được con cháu tiếp nhận. Kiến trúc và đời sống cùng làm nên chiều sâu của một nếp nhà.

Tại xã Lý Nhân, hai ngôi nhà của dòng họ Vũ- Võ đều có tuổi đời gần 200 năm.

Tại xã Lý Nhân, hai ngôi nhà của dòng họ Vũ- Võ đều có tuổi đời gần 200 năm.

Tại xã Lý Nhân, hai ngôi nhà của dòng họ Vũ- Võ đều có tuổi đời gần 200 năm, được xây dựng theo đúng lối nhà cổ Bắc Bộ và được các thế hệ gìn giữ, chăm chút. Qua gần hai thế kỷ, những công trình ấy lưu lại tài nghệ người thợ, kinh nghiệm cư trú và quan niệm về gia đình của người xưa. Mỗi thế hệ tiếp nhận ngôi nhà cũng nhận thêm phần trách nhiệm bảo quản, tu sửa, giữ gìn nền nếp để trao lại cho con cháu.

Sau những năm tháng công tác, Trung tướng Vũ Thuật dành tâm huyết chăm lo hai ngôi nhà, gắn với tình cảm đối với quê hương và dòng họ Vũ Võ. Với ông, đây là nơi con cháu trở về, tưởng nhớ tổ tiên và hiểu thêm lịch sử gia đình, quê hương. Sự gắn bó ấy giúp ngôi nhà tiếp tục có đời sống, có người chăm sóc và có những câu chuyện được truyền lại.

Qua cổng với những hàng chữ Hán là khoảng sân gạch, hàng cau và mái ngói đỏ nâu. Ngôi nhà trải ngang, hàng hiên có những cột gỗ lớn, bậc đá nối nền nhà với sân vườn. Bên trong, hoành phi, câu đối và không gian thờ tự tạo vẻ trang trọng. Cây xanh bao quanh giữ sự hài hòa giữa nơi ở với cảnh quan làng quê.

Từ góc nhìn nghiên cứu của ông Nguyễn Thế Vinh, những nếp nhà ấy cần được tìm hiểu trong mối liên hệ giữa kiến trúc và văn hóa cư trú. Nền cao giúp hạn chế ẩm; mái ngói, hiên rộng che mưa nắng; hệ cửa mở ra sân vườn đón ánh sáng và gió tự nhiên. Các giải pháp được tích lũy qua nhiều đời cho thấy sự am hiểu môi trường sống của cư dân đồng bằng Bắc Bộ.

Cách phân chia các gian cũng chứa đựng những quan niệm văn hóa. Gian giữa dành cho thờ cúng tổ tiên và tiếp khách, các gian bên phục vụ sinh hoạt gia đình. Vị trí trang trọng của nơi thờ tự cho thấy ý thức về nguồn cội; khoảng hiên, sân tạo điều kiện cho giao tiếp, sum họp. Ngôi nhà vừa đáp ứng nhu cầu ở, vừa dành chỗ cho những sinh hoạt duy trì quan hệ giữa các thế hệ.

Cổng ngôi nhà cổ của Trung tướng Vũ Thuật, thôn Quan Văn, xã Lý Nhân.

Cổng ngôi nhà cổ của Trung tướng Vũ Thuật, thôn Quan Văn, xã Lý Nhân.

Bởi vậy, gần 200 năm tồn tại cần được nhìn cùng với quá trình gìn giữ. Thời gian có thể làm hư hỏng vật liệu; chính sự chăm chút của con người giúp công trình tiếp tục đứng vững. Qua mỗi lần sửa mái, bảo quản bộ khung, chăm lo gian thờ, trách nhiệm với người trước được thực hiện bằng những việc cụ thể. Từ đó, con cháu hiểu giá trị ngôi nhà qua cả lời kể và cách người lớn nâng niu di sản gia đình.

Trong chia sẻ của mình, Trung tướng Vũ Thuật nhìn việc giữ gìn nhà cổ và cảnh quan văn hóa như một trách nhiệm chung. Ngôi nhà thuộc về gia đình, nhưng lịch sử, tài nghệ và những giá trị được lưu giữ trong đó còn có ý nghĩa với địa phương, đất nước. Ông mong các thế hệ quan tâm tìm hiểu nguồn gốc, bảo vệ những nếp nhà còn lại, cùng chăm sóc cây xanh và cảnh quan.

Ông cũng nghĩ đến việc mở cửa đón khách, để người đến thăm có thể thưởng lãm kiến trúc, tìm hiểu văn hóa làng quê Việt Nam. Việc sưu tầm, trồng thêm cây cảnh, cây gỗ quý góp phần chăm lo khuôn viên, tạo một không gian gần gũi với thiên nhiên. Khi được tổ chức phù hợp, những hoạt động ấy có thể giúp giá trị ngôi nhà được biết đến rộng hơn, đồng thời tạo thêm điều kiện để chủ nhân tiếp tục gìn giữ.

Gần hai thế kỷ qua, công trình được trao lại cùng ký ức gia đình và trách nhiệm của các thế hệ dòng họ Vũ- Võ. Đến hôm nay, tâm huyết của Trung tướng Vũ Thuật tiếp tục mạch gìn giữ ấy, đồng thời mở thêm cơ hội để những người ngoài gia đình được tìm hiểu, trân trọng. Từ một nếp nhà, câu chuyện về nguồn cội có thể đến với nhiều người, góp phần nuôi dưỡng ý thức giữ gìn văn hóa quê hương.

Trong không gian phát triển của Ninh Bình hôm nay, những nếp nhà Sơn Nam góp thêm một cách nhìn về lịch sử vùng đất. Bên cạnh dấu ấn kinh đô Hoa Lư, truyền thống văn hóa thời Trần và hệ thống làng nghề, nhà cổ góp phần làm rõ chiều sâu văn hóa Ninh Bình. Đó là lịch sử của các gia đình, của nghề nghiệp và giao thương; là kinh nghiệm thích ứng với tự nhiên, tiếp nhận cái mới mà vẫn duy trì nền nếp. Những giá trị ấy tạo thêm nội dung cho giáo dục, nghiên cứu, du lịch và sáng tạo văn hóa trong hành trình xây dựng Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương mang đặc trưng đô thị di sản thiên niên kỷ.

Ngôi nhà có tuổi đời hàng trăm năm của dòng họ Nguyễn Hữu, tổ dân phố Đôn Lương.

Ngôi nhà có tuổi đời hàng trăm năm của dòng họ Nguyễn Hữu, tổ dân phố Đôn Lương.

Tại Đôn Lương, trách nhiệm ấy vẫn được các thành viên dòng họ Nguyễn Hữu tiếp nối. Ngôi nhà được truyền lại cùng ký ức về người thợ dựng nhà, nguồn gốc dòng họ và công sức chăm sóc của nhiều thế hệ. Ông Nguyễn Hữu Hùng, trưởng họ Nguyễn Hữu chia sẻ: “Chúng tôi tự hào vì dòng họ còn giữ được ngôi nhà của cha ông. Nhà có giá trị bởi công sức người trước và những chuyện gia đình còn gắn với nó. Phần việc của chúng tôi là chăm sóc, gìn giữ, nhắc con cháu hiểu vì sao ngôi nhà đáng quý, để sau này các cháu tiếp tục có trách nhiệm.”

Tình cảm của chủ nhân đã giúp nhiều ngôi nhà tồn tại đến hôm nay. Nhưng khi công trình xuống cấp, nhu cầu sinh hoạt thay đổi, người giữ nhà cần thêm kinh phí và hướng dẫn chuyên môn. Mong muốn có chính sách hỗ trợ bảo tồn mà ông Lê Văn Thiết, Tổ trưởng tổ dân phố Nha Xá, đặt ra cũng xuất phát từ khó khăn ấy: Người dân muốn giữ cơ ngơi của cha ông, song việc sửa chữa đúng cách thường vượt quá khả năng của từng gia đình.

Các thế hệ dòng họ Nguyễn Hữu ở Đôn Lương luôn hướng về nguồn cội.

Các thế hệ dòng họ Nguyễn Hữu ở Đôn Lương luôn hướng về nguồn cội.

Bảo tồn cần bắt đầu từ hiểu biết cụ thể về công trình. Niên đại, kết cấu, dấu vết tu sửa, lịch sử gia đình phải được khảo sát, ghi chép và đối chiếu. Cùng với hướng dẫn kỹ thuật, cần tìm cách đáp ứng nhu cầu sống của chủ nhân, để gia đình tiếp tục sử dụng và chăm sóc ngôi nhà.

Phường Duy Tân hiện cũng đang đặt việc bảo tồn nhà cổ trong mối liên hệ với nghề dệt lụa Nha Xá và không gian văn hóa đền Lảnh Giang. Hướng tiếp cận này có cơ sở từ lịch sử: nghề nghiệp, giao thương và kiến trúc vốn gắn bó trong quá trình phát triển của làng. Kết nối những giá trị ấy có thể tạo thêm nội dung cho một hành trình tìm hiểu văn hóa.

Từ một địa phương, có thể nghiên cứu mở rộng sự kết nối trong chuỗi điểm đến di sản của tỉnh. Những nếp nhà Sơn Nam đem lại khả năng bổ sung trải nghiệm về đời sống làng Việt, nghề thủ công và văn hóa gia đình. Đây là những nội dung có thể làm phong phú hành trình của du khách, nhất là người muốn tìm hiểu sâu hơn lịch sử, con người Ninh Bình.

Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 30/1/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định người dân là trung tâm và chủ thể sáng tạo, gắn bảo tồn không gian văn hóa với phát triển du lịch, tạo việc làm và nâng cao thu nhập. Từ định hướng ấy, những nếp nhà trấn Sơn Nam có thêm cơ hội được gìn giữ và phát huy giá trị trong đời sống hôm nay.

Để người dân có thể sống cùng di sản, bảo tồn di sản và hưởng lợi từ di sản, cần những cách làm phù hợp với từng ngôi nhà, từng làng nghề, giúp chủ nhân có điều kiện chăm sóc công trình, tiếp nối nghề truyền thống và tham gia làm du lịch. Khi ấy, những mái nhà cha ông để lại có thể mở thêm sinh kế cho con cháu, thêm những trải nghiệm văn hóa cho du khách, góp phần định hình bản sắc Ninh Bình trong không gian phát triển mới.

Nguyễn Thơm - Đông Sơn

Nguồn Ninh Bình: https://baoninhbinh.org.vn/nha-co-tran-son-nam-trong-mach-nguon-di-san-van-hoa-ninh-binh-261026195249544.html