Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Mãi mãi màu hoa đỏ

Có những bài thơ, những câu chữ đã thấm vào máu thịt của cả dân tộc, trở thành ký ức chung, nỗi đau chung và niềm tự hào chung mà không cần ai giới thiệu. Màu hoa đỏ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu là một trong số đó. Và giờ đây, khi người cầm bút đã ra đi, bài thơ ấy vẫn nở rực rỡ trong trái tim người Việt như một màu hoa không bao giờ phai.

Sáng 8-4, làng văn nghệ bàng hoàng trước tin nhà thơ Nguyễn Đức Mậu qua đời. Theo nhà văn Sương Nguyệt Minh, từ nhiều năm nay, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu có thói quen ngồi xe buýt đi rong khắp Hà Nội, lặng lẽ ngắm nhìn những mái nhà phố cổ rêu phong, những biệt thự phố Tây trầm mặc, những con đường xao xác lá vàng và những hàng liễu rủ xuống mặt gương Tây Hồ. Sáng hôm ấy, vẫn là chuyến xe quen thuộc, nhưng giữa hành trình rong chơi ấy, ông bất ngờ choáng và gục xuống. Dù được đưa đi cấp cứu, ông đã ra đi như thể kết thúc một chuyến rong chơi cuối cùng của đời mình, lặng lẽ “đi từ cõi cầm bút nhọc nhằn về miền cao xanh”.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu sinh ra và lớn lên tại Nam Định (nay thuộc Ninh Bình), trong một vùng quê đồng bằng Bắc Bộ giàu truyền thống văn chương. Năm 1966, khi vừa tròn mười tám tuổi, ông nhập ngũ vào Sư đoàn 312, bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ với tất cả nhiệt huyết và lý tưởng của thế hệ mình. Nhưng Nguyễn Đức Mậu không chỉ cầm súng, mà ông còn cầm bút. Và thơ ông đã ra đời từ chiến hào, từ rừng núi, từ mùi bùn đất và khói súng. Đó là thơ của người trong cuộc, của người đã chứng kiến đồng đội ngã xuống, đã ôm thi thể bạn bè trong tay, đã sống sót để kể lại và để nhớ. Người yêu thơ vẫn còn nhớ Nấm mộ và cây trầm - bài thơ viết về người đồng đội tên Hùng đã hy sinh khi lấy thân mình chặn lỗ châu mai cho đồng đội tiến lên. Hay Trường ca sư đoàn được ông viết sau ngày đất nước thống nhất, với câu thơ ám ảnh: “Nếu tất cả trở về đông đủ/Sư đoàn tôi thành mấy sư đoàn”. Đó không chỉ là thơ mà là ký ức, là nỗi đau được gọi tên bằng ngôn từ.

Trong gia tài sáng tác của Nguyễn Đức Mậu, không thể không nhắc đến Màu hoa đỏ - bài thơ đã được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc thành ca khúc cùng tên và trở thành một trong những bài hát đi cùng năm tháng. Nhiều người Việt Nam có thể không biết rõ về nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, nhưng lại thuộc lòng những câu hát của Màu hoa đỏ, thậm chí đã từng hát, từng khóc, từng lặng đi khi giai điệu và ca từ của bài hát vang lên.

Theo hồi ức của chính nhà thơ, Màu hoa đỏ ra đời năm 1990. Khi ấy, nhạc sĩ Thuận Yến sống gần cơ quan Tạp chí Văn nghệ Quân đội - nơi nhà thơ Nguyễn Đức Mậu công tác nên hai người thường qua lại, trò chuyện, ôn lại những kỷ niệm chiến trường, nhắc về những đồng đội đã hy sinh mà hài cốt vẫn chưa tìm thấy. Từ những câu chuyện ấy, họ cùng nung nấu ý tưởng về một tác phẩm như một lời tri ân. Từ đó, nhà thơ đã viết nên những vần thơ lay động:

"Có người lính

mùa thu ấy ra đi từ mái tranh nghèo

Có người lính

mùa xuân ấy ra đi từ ấy không về

Dòng tên anh khắc vào đá núi

mây ngàn hóa bóng cây che

chiều biên cương trắng trời sương núi

mẹ già mỏi mắt nhìn theo

Việt Nam ơi! Việt Nam!

núi cao như tình mẹ bốn mùa tóc bạc nỗi thương con

Việt Nam ơi! Việt Nam!

ngọn núi nơi anh ngã xuống

rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa

rực cháy lên màu hoa đỏ trước hoàng hôn..."

Ban đầu, bài thơ có tên Thời hoa đỏ, nhưng khi phổ nhạc, nhạc sĩ đã đề nghị đổi thành Màu hoa đỏ - sắc đỏ của hoa chuối rừng, sắc đỏ của ký ức chiến tranh, của sự hy sinh và sự bất tử. Khi bài hát Màu hoa đỏ vang lên trên làn sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam với tiếng hát của ca sĩ Thanh Lam (con gái nhạc sĩ Thuận Yến), ca khúc đã được đón nhận một cách nồng nhiệt. Hình ảnh của người chiến sĩ từ giã mái tranh nghèo ra đi theo tiếng gọi của non sông và mãi mãi hóa thân thành “đá núi”, “mây ngàn”, “bóng cây che”… đã khắc sâu trong tâm khảm của người nghe. Màu hoa đỏ ở đây không chỉ là sắc hoa. Đó là máu, là ký ức, là lòng biết ơn, là sự tiếp nối của những gì đã mất. Chính vì thế, bài thơ ấy, ca khúc ấy đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một tác phẩm nghệ thuật thông thường để trở thành một phần của ký ức dân tộc.

Hàng triệu người Việt Nam đã hát Màu hoa đỏ, đã khóc khi nghe bài hát ấy, đã nhớ về những người ông, người cha, người anh, những người thân đã không trở về từ chiến tranh. Trong những buổi lễ tri ân tưởng nhớ anh linh các liệt sĩ, trong những ngày đại lễ của dân tộc, giai điệu ấy lại vang lên, nhắc nhở về một thời đã qua nhưng chưa bao giờ bị quên lãng.

Con đường thơ của Nguyễn Đức Mậu đã khép lại. Và ông đã làm trọn vẹn điều mà một người cầm bút cần làm trong cuộc đời: Để lại những tác phẩm đi cùng năm tháng. Thơ ông không chỉ là nghệ thuật, mà còn là ký ức, là lịch sử, là phần sâu thẳm trong tâm hồn của nhiều thế hệ. Hay nói cách khác, Nguyễn Đức Mậu ra đi, nhưng Màu hoa đỏ vẫn ở lại. Nó vẫn nở trên những trang sách, trong những giai điệu, trong trái tim của những người còn biết ơn và biết yêu Tổ quốc mình.

Đại tá, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu sinh năm 1948 tại xã Nam Điền, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định cũ (nay là tỉnh Ninh Bình). Ông từng là Trưởng Ban Thơ của Tạp chí Văn nghệ quân đội, Chủ tịch Hội đồng Thơ - Hội Nhà văn Việt Nam. Ông là tác giả của nhiều tập thơ, trường ca, tiểu thuyết, truyện ngắn và phê bình. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã được nhận giải nhất Cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ năm 1972-1973; Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật (năm 2001) cho tập Trường ca Sư đoàn và hai tập thơ Cây xanh đất lửa, Cánh rừng nhiều đom đóm bay; Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2001 cùng nhiều giải thưởng cao quý khác.

THÀNH NGUYỄN

Nguồn Khánh Hòa: http://www.baokhanhhoa.vn/van-hoa/202604/nha-tho-nguyen-duc-mau-mai-mai-mau-hoa-do-cf4560c/