Nhiều nghi lễ bí truyền vùng cao trước nguy cơ bị biến thành 'màn diễn'
Hiện diện sâu sắc trong đời sống tâm linh bản làng, song tín ngưỡng dân gian tại vùng trung du và miền núi phía Bắc vẫn chưa được nhận diện và thống kê đầy đủ. Trước nguy cơ thất truyền nghi lễ, cần đánh giá đúng giá trị di sản.
Những thực hành tâm linh bí ẩn và nguy cơ bị kéo lệch khỏi không gian thiêng
Trong bức tranh tâm linh đa sắc màu của vùng cao phía Bắc, bên cạnh các tôn giáo có hệ thống tổ chức chặt chẽ, thì “dòng chảy” tín ngưỡng dân gian vẫn âm thầm gắn liền với từng gia đình, dòng họ và bản làng qua bao thế hệ. Tuy nhiên, nguồn lực tín ngưỡng dân gian hiện vẫn chưa được nhận diện đầy đủ trong hệ thống thống kê hành chính.
Chẳng hạn, những thực hành tâm linh mộc mạc gắn liền với ma bản, ma mường, ma rừng hay ma nhà…; hoặc đội ngũ thầy mo, thầy then, thầy tào, thầy cột - những người nắm giữ và thực hành tri thức nghi lễ bản địa.
“Người Thái không dùng bàn thờ lộ thiên như người Kinh mà duy trì tục thờ ma nhà ở góc nhà, quanh năm chỉ đặt một chiếc đĩa và chén sứt. Chỉ chủ nhà mới được phép tiếp cận không gian thiêng này”, TS Vi Văn An, chuyên gia dân tộc học, dẫn chứng một nét đặc trưng trong tín ngưỡng dân gian của người Thái để nhấn mạnh sự cần thiết phải nhìn nhận các thực hành tín ngưỡng một cách toàn diện, thấu đáo.

TS Vi Văn An chia sẻ tại tọa đàm mới đây ở Hà Nội về giải pháp phát huy nguồn lực tín ngưỡng, tôn giáo trong cộng đồng dân tộc thiểu số vùng trung du và miền núi phía Bắc hiện nay. Ảnh: Bình Minh
Cũng theo TS An, mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số đều có những lễ hội, thực hành tín ngưỡng mang bản sắc riêng: người Dao có lễ Cấp sắc; người Mông có lễ Nào sồng; người Tày tổ chức lễ Lồng tồng; người Thái vùng Nghệ An có lễ Xăng khan, Xên bản, còn người Thái Tây Bắc có lễ Xên lẩu nó; người Hà Nhì có lễ Gạ ma thú, lễ Gà tu tu, lễ cúng thần nước, thần rừng…
Thế nhưng, kho tàng di sản này đang đối mặt với nguy cơ biến dạng nghiêm trọng do tác động của làn sóng thương mại hóa.
PGS. TS Nguyễn Trường Giang - Trưởng khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội lưu ý: Có nhiều thực hành tín ngưỡng mang tính chất riêng tư, bí truyền của dòng họ hay bản làng; tiêu biểu như nghi lễ ma gà hay các lễ cúng ma gia tiên của người Mông vốn chỉ dành cho người trong cuộc.
"Một nghi lễ có thể rất hấp dẫn với du khách, nhưng trước hết nó là phần đời sống tâm linh thiêng liêng của cộng đồng. Không phải yếu tố văn hóa nào cũng có thể mang ra trình diễn thương mại và không phải không gian thiêng nào cũng có thể mở cửa cho khách du lịch", PGS. TS Nguyễn Trường Giang nhấn mạnh.

PGS. TS. Nguyễn Trường Giang, Trưởng khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: Bình Minh
Ông Giang cảnh báo, việc người bên ngoài đem ánh nhìn chủ quan để đánh giá, hiểu lầm hoặc hiểu sai về các thực hành của đồng bào dân tộc thiểu số sẽ dẫn đến những ứng xử sai lệch, gây tác dụng ngược. Do đó, nguyên tắc tối thượng là phải tôn trọng quyền chủ thể và sự tự nguyện của chính cộng đồng dân cư.
Ở một góc nhìn khác, TS Nguyễn Hữu Thụ, Khoa Nhân học và Tôn giáo học, phản ánh thực trạng một số địa phương tổ chức các hoạt động trình diễn phục vụ du lịch, đưa nghi lễ ra khỏi thời gian và không gian thiêng vốn có. Điều này dẫn tới sự biến dạng và mất đi giá trị văn hóa truyền thống.
Các chuyên gia cũng bày tỏ lo ngại trước tình trạng "sân khấu hóa" tràn lan. Việc sao chép kịch bản lễ hội từ địa phương này sang địa phương khác có thể tạo ra nguồn thu trước mắt nhưng lại làm lệch chuẩn văn hóa bản địa, khiến du khách nhàm chán vì mất đi tính nguyên bản.
Nỗi buồn thất truyền và trăn trở bảo tồn, phát huy giá trị của những cuốn sách cúng cổ
Không chỉ bị tác động bởi áp lực thương mại hóa, tín ngưỡng dân gian vùng cao còn đứng trước nguy cơ đứt gãy thế hệ.
Trực tiếp tham gia nhiều chuyến điền dã, TS. Nguyễn Hữu Thụ chia sẻ những câu chuyện thực tế đầy xót xa. Đó là trường hợp cháu ruột của một nghệ nhân ưu tú người dân tộc thiểu số, khi đi thi tuyển vào đài phát thanh - truyền hình tỉnh đã bị trượt chỉ vì... không biết nói tiếng của dân tộc mình. Hay một trưởng lão người Mông ở Cao Bằng ngậm ngùi tâm sự, nỗi buồn lớn nhất đời cụ là đi khắp nơi dạy thổi khèn, dạy "lý" cho thiên hạ, nhưng mấy đứa cháu nội trong nhà lại nhất quyết không chịu nói tiếng Mông, chỉ nói tiếng Kinh.

TS Nguyễn Hữu Thụ chia sẻ một số câu chuyện thực tế về sự đứt gãy thế hệ và bài toán truyền thừa. Ảnh: Bình Minh
Trăn trở về bài toán truyền thừa, TS Nguyễn Hữu Thụ nhấn mạnh rằng các hiện vật như sách cúng cổ, tranh thờ, cờ hay đồ nghề lễ nghi chỉ thực sự phát huy giá trị khi có người biết đọc, biết diễn giải và thực hành.
"Một không gian thiêng như khu rừng thiêng chỉ có ý nghĩa sống động khi mối quan hệ cộng đồng với nó được duy trì; nếu rừng không còn thì đó cũng không còn là rừng thiêng nữa… Chúng ta không thể bảo tồn theo kiểu gom một lớp các bạn trẻ lại, lôi hiện vật ra giới thiệu rồi bắt các em học. Cách làm đó mang nặng tính ngoại lực và mệnh lệnh hành chính", ông Thụ phân tích.
Để bảo tồn nguồn lực tín ngưỡng dân gian vùng cao một cách sống động, TS. Thụ cho rằng, yếu tố cốt lõi nằm ở việc phải nâng cao sự tự tin dân tộc của chính cộng đồng. Phải làm sao để chủ thể văn hóa ý thức được giá trị độc đáo của dân tộc mình, từ đó trỗi dậy niềm tự hào và nhu cầu tự nguyện trao truyền.

Để bảo tồn nguồn lực tín ngưỡng dân gian vùng cao một cách sống động, yếu tố cốt lõi nằm ở việc phải nâng cao sự tự tin dân tộc của chính cộng đồng và người trong cuộc. Ảnh: Lê Anh Dũng
Gợi mở giải pháp, TS Vi Văn An chia sẻ kinh nghiệm triển khai chương trình mục tiêu quốc gia tại địa phương: Chính quyền đã tiến hành khảo sát, cấp kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho các nghệ nhân, người có kinh nghiệm và uy tín trong bản để thực hiện bài bản 3 công việc trọng tâm: Truyền dạy các bài hát dân ca truyền thống cho dân bản; Hướng dẫn kỹ thuật chế tác các loại nhạc cụ dân tộc; Ghi chép, in ấn, ghi âm bài bản các bài cúng cổ và đưa vào thực hành truyền dạy cho thanh niên.
Việc kết hợp các mô hình trao truyền trực tiếp với ứng dụng công nghệ để số hóa di sản sẽ góp phần gìn giữ và phát huy giá trị tín ngưỡng dân gian một cách bền vững.
