Những người phụ nữ gồng mình gánh sinh kế trên bến cá Tam Quan

Ở làng chài miền Trung, khi đàn ông ra khơi, phụ nữ giữ dòng tiền và mái nhà, nhưng quyền lực kinh tế không phải lúc nào cũng thuộc về họ.

Lời giới thiệu

Ở những vùng biển miền Trung và dải cao nguyên đất đỏ Tây Nguyên, bình đẳng giới không bắt đầu từ những diễn đàn lớn hay khẩu hiệu kêu gọi. Nó hiện ra lặng lẽ trong từng mái nhà nhỏ, nơi cuộc sống phụ thuộc vào con nước, vào mùa cá và vào những biến động sinh kế không thể lường trước.

Khi những chuyến biển ngày càng bấp bênh bởi thiên tai, chi phí nhiên liệu, biến động ngư trường và các quy định quản lý khai thác, cấu trúc gia đình ngư dân cũng âm thầm dịch chuyển. Người đàn ông không còn luôn giữ vai trò trụ cột như trước. Người phụ nữ, từ vị trí hậu phương, dần trở thành điểm tựa kinh tế chính, gánh vác thu nhập, xoay xở vốn liếng và giữ cho gia đình không chao đảo giữa sóng gió.

Ở một chiều khác của dải đất miền Trung - Tây Nguyên, phụ nữ vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng đang từng bước bước ra khỏi định kiến truyền thống. Họ học nghề, khởi nghiệp, tham gia điều hành kinh tế cộng đồng và cất lên tiếng nói của mình trong gia đình cũng như đời sống xã hội.

Những chuyển động ấy không ồn ào, nhưng bền bỉ như con nước lên ngoài khơi. Khi sinh kế thay đổi, vai trò giới cũng đổi thay. Khi phụ nữ có cơ hội tiếp cận nguồn lực và quyền quyết định, gia đình trở nên cân bằng hơn, cộng đồng vững vàng hơn trước rủi ro.

Tuyến phóng sự “Sinh kế đổi thay, quyền lực giới dịch chuyển” của Báo Điện tử VTC News ghi lại những lát cắt đời sống ấy từ bến cá ven biển đến đại ngàn Tây Nguyên - nơi phụ nữ không còn chỉ đứng phía sau những biến động của cuộc đời, mà đang từng bước trở thành chủ thể kiến tạo tương lai của chính mình.

Bến cá lúc 3 giờ sáng

Ở làng biển, người ta quen nhìn thấy phụ nữ xuất hiện từ khi trời còn tối đen cho đến lúc bến cá tắt đèn. Họ tranh mua từng rổ cá, gánh hàng ra chợ, nuôi con và trả nợ những con tàu nằm lại ngoài khơi. Có người chồng vẫn đang đi biển. Có người chồng đã không bao giờ trở về. Và từ rất lâu, những người đàn bà ấy đã học cách sống như những “cột buồm còn lại” của gia đình.

Ba giờ sáng, bến cá Tam Quan (phường Hoài Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai) đã rực đèn. Gió biển thổi ràn rạt qua dãy nhà thấp sát mép sóng, mang theo mùi mặn và hơi lạnh thấm vào da. Tiếng xe máy nổ vội, tiếng thùng xốp kéo trên nền xi măng ướt, tiếng gọi nhau í ới hòa vào tiếng máy tàu vừa cập bến.

Khi chiếc tàu đầu tiên áp mạn, nhóm phụ nữ gần như lao xuống cùng lúc. Họ chen vai, gọi giá, giành mối trong thứ âm thanh dồn dập của cá, nước đá và động cơ. Không ai nói nhỏ, cũng không ai nhường ai. Ở bến cá này, sự mềm yếu không phải là lựa chọn.

Bao đời nay tại các chợ cá ven biển Gia Lai, toàn bộ là phụ nữ xuyên đêm chen vai, gọi giá, giành mối để mưu sinh.

Bao đời nay tại các chợ cá ven biển Gia Lai, toàn bộ là phụ nữ xuyên đêm chen vai, gọi giá, giành mối để mưu sinh.

Khi đàn ông ra khơi, chính những người phụ nữ ấy giữ dòng tiền của gia đình. Họ thu mua, phân loại, bán lẻ, ghi nợ, trả tiền, xoay vòng vốn và bảo đảm bữa cơm không bị gián đoạn bởi những chuyến biển may rủi. Họ không ra khơi, nhưng mọi rủi ro của biển cuối cùng đều dội về phía họ.

Chị Nguyễn Thị Bích, 39 tuổi, có mặt ở bến cá từ 3 giờ sáng. Chồng chị đi tàu câu mực xa bờ công suất hơn 800CV, mỗi chuyến biển kéo dài 20–25 ngày. Nếu trúng luồng cá, thu nhập khoảng 7-8 triệu đồng/người/chuyến; nhưng những chuyến biển thất bát, thuyền viên gần như trắng tay.

Ở đây ai cũng dữ hết. Không dữ thì người ta ép” - chị nói, tay vẫn thoăn thoắt lật mang cá. Bàn tay nứt nẻ, chai cứng sau nhiều năm ngâm nước biển và đá lạnh là bằng chứng thầm lặng cho một dạng lao động ít khi được gọi tên.

Những ngày không có tàu nhà cập bến, chị mua gom cá của tàu bạn đem bán lẻ tại chợ xã. Trung bình mỗi ngày lời khoảng 300–400 nghìn đồng, nhưng phải xoay vòng vốn liên tục để trả tiền đá lạnh, phí bến bãi, tiền học cho hai con và chi phí sinh hoạt cố định gần 10 triệu đồng mỗi tháng.

Chồng chị đã theo tàu hơn ba tuần. Nhưng ở bến cá, chị không có thời gian để lo. Chậm một bước là mất mối. Mất mối là mất tiền. Và mất tiền có thể đồng nghĩa với việc con phải nghỉ học giữa chừng.

Dù là bến cá to hay chợ cá nhỏ, từ đêm đến sáng tinh mơ đều phải chờ sẵn để giành gom cá của tàu bạn đem bán lẻ tại chợ quê.

Dù là bến cá to hay chợ cá nhỏ, từ đêm đến sáng tinh mơ đều phải chờ sẵn để giành gom cá của tàu bạn đem bán lẻ tại chợ quê.

Gánh sinh kế, trống quyền lực

Ở nhiều làng chài miền Trung, phụ nữ tham gia gần như toàn bộ khâu hậu cần nghề cá: thu mua, vá lưới, bán lẻ, quản lý chi tiêu và xoay vòng vốn nhỏ. Tuy nhiên, tài sản lớn như tàu thuyền, đất đai hoặc các khoản vay ngân hàng vẫn thường đứng tên người đàn ông trong gia đình.

Bình đẳng giới ở đây tồn tại trong một nghịch lý: phụ nữ gánh phần lớn sinh kế hằng ngày, nhưng quyền quyết định tài sản và nguồn lực chính thức lại không phải lúc nào cũng thuộc về họ. Vai trò kinh tế và quyền lực kinh tế không tự động song hành.

Tại các làng chài miền Trung nói chung, Gia Lai nói riêng, phụ nữ tham gia gần như toàn bộ khâu hậu cần nghề cá.

Tại các làng chài miền Trung nói chung, Gia Lai nói riêng, phụ nữ tham gia gần như toàn bộ khâu hậu cần nghề cá.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, phụ nữ chiếm gần một nửa lực lượng lao động cả nước, song thu nhập bình quân của lao động nam vẫn cao hơn đáng kể so với lao động nữ. Khoảng cách ấy phản ánh một cấu trúc bất cân bằng quyền lực kinh tế ở quy mô rộng, và trong cộng đồng nghề cá, cấu trúc này thể hiện rõ ở việc ai đứng tên tài sản, ai tiếp cận vốn và ai có quyền quyết định đầu tư.

Sau cơn bão số 9 (Molave) năm 2020 gây thiệt hại nặng nề tại Bình Định (cũ) với tổng ước tính gần 500 tỷ đồng, nhiều tàu cá gặp nạn, để lại phía sau những mái nhà chỉ còn phụ nữ và trẻ nhỏ. Ở Hoài Nhơn, 23 ngư dân mãi không trở về.

Những nấm mộ gió, những chiếc bàn thờ lần lượt được dựng lên trong những căn nhà nhỏ, trĩu nặng nỗi buồn. Trong những gia đình ấy, phụ nữ tiếp tục buôn bán để duy trì sinh kế và đồng thời gánh thêm phần việc “trụ cột”, nhưng sự gánh vác đó không tự động chuyển hóa thành quyền lực tương xứng.

Từ ngày anh Hà Quốc Phong (phường Hoài Nhơn Đông) mất tích giữa biển khơi, chị Huỳnh Thị Tình (37 tuổi) và 4 đứa con thơ bệnh tật bơ vơ.

Từ ngày anh Hà Quốc Phong (phường Hoài Nhơn Đông) mất tích giữa biển khơi, chị Huỳnh Thị Tình (37 tuổi) và 4 đứa con thơ bệnh tật bơ vơ.

Chị Phượng (41 tuổi) là vợ của anh Nguyễn Ngọc Đô - một trong 23 ngư dân gặp nạn trên biển trong cơn bão số 9 vào cuối tháng 10/2020. Từ ngày giông tố biển khơi mãi mãi giữ anh Đô ở lại cùng những con sóng bạc đầu, chị Phượng bắt đầu cuộc đời góa bụa đầy cơ cực.

sức khỏe kém nhưng hàng ngày chị Phượng vẫn phải vượt quãng đường hàng chục cây số đi làm thuê. Những ngày cuối tuần thì ra cảng cá giúp việc vặt, đan lưới thuê cho những gia đình ngư dân trong xóm để có thêm tiền chăm lo cho bố mẹ chồng và 3 con nhỏ.

Người góa phụ ngước đôi mắt buồn nhìn chúng tôi rồi tay vừa thoăn thoắt công việc của mình vừa kể câu chuyện của mình với giọng ngắt quãng. Anh Đô chồng chị là thế hệ thứ 5 trong gia đình có 5 đời làm nghề biển.

Năm 2015, vợ chồng chị Phượng dành dụm đóng được chiếc tàu đánh bắt xa bờ, làm ăn suôn sẻ được 2 năm, đến năm 2017 thì chiếc tàu bị cháy rụi. Do tàu không có bảo hiểm nên vợ chồng ngư phủ trẻ mất trắng tài sản.

Không nản lòng, vợ chồng chị Phượng vay ngân hàng 2 tỷ đồng để đóng mới tàu, mua sắm lại ngư lưới cụ, tổng chi phí hết 4 tỷ đồng. Mới làm được mấy năm thì năm 2020 tàu bị chìm. Tài sản lại mất trắng mà nợ nần thì chồng chất. Con tàu đứng tên anh, khoản vay ngân hàng cũng đứng tên anh.

Khi người trụ cột pháp lý không còn, chị vừa trở thành chủ hộ, vừa phải hoàn tất thủ tục chuyển đổi nghĩa vụ vay vốn trong khi việc mưu sinh không thể ngừng lại.

Tuy sức khỏe yếu nhưng sáng nào chị Phượng cũng dậy rất sớm để đi làm. Vất vả từ mờ sáng nhưng số tiền chị kiếm được mỗi ngày là 100.000 - 120.000 đồng cũng chỉ như “muối bỏ bể” chẳng thấm tháp vào đâu so với các khoản chi tiêu của 6 người trong gia đình. Khoản nợ hơn 2 tỷ đồng của ngân hàng chuyển thành nợ xấu, chị cũng đành bất lực vì không có khả năng trả.

Cũng từ ngày chồng mất, một ngày chị Phượng quay cuồng với đủ công việc, chẳng có thời gian dành chăm sóc bản thân mình. Đã lâu lắm rồi chị không dám soi gương, ít dám dùng đến cây lược chải đầu bởi mỗi lần bới tóc là một lần chị thấy tóc bạc ngày càng nhiều.

Chị bảo, thỉnh thoảng trong những giấc mơ chị lại thấy chồng mình hiện về an ủi vợ. Nỗi nhớ thương và niềm hy vọng về một phép màu vì thế chưa bao giờ tắt trong lòng người đàn bà góa bụa.

Những nấm mộ gió, những chiếc bàn thờ lần lượt được dựng lên trong những căn nhà nhỏ khiến chị Phượng và những người phụ nữ làng chài khác bắt đầu cuộc đời góa bụa đầy cơ cực.

Những nấm mộ gió, những chiếc bàn thờ lần lượt được dựng lên trong những căn nhà nhỏ khiến chị Phượng và những người phụ nữ làng chài khác bắt đầu cuộc đời góa bụa đầy cơ cực.

Những trường hợp như chị Phượng, sự gánh vác sinh kế không tự động đi kèm với quyền tiếp cận nguồn lực. Khoảng trống pháp lý và thủ tục hành chính khiến phụ nữ vừa phải đứng lên trước mất mát, vừa phải tự học cách trở thành người đại diện chính thức của gia đình.

Trong bối cảnh chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững được đặt ra ở tầm quốc gia, vai trò của phụ nữ trong chuỗi giá trị nghề cá cần được nhìn nhận như một chủ thể kinh tế thực sự, thay vì chỉ là hậu phương.

Khi phụ nữ đảm nhận phần lớn khâu lưu thông và tài chính trong gia đình nhưng chưa được trao quyền tiếp cận nguồn lực tương xứng, thì mục tiêu phát triển bao trùm khó có thể đạt được trọn vẹn.

Thích nghi không đồng nghĩa với bình đẳng

Chiều xuống, chị Bích lại ra vá lưới thuê cùng những phụ nữ khác. Họ nói chuyện rôm rả, nhưng khi câu chuyện chạm đến tai nạn biển, không khí lặng đi. “Đàn bà biển phải quen sống một mình” - Một người nói chậm rãi, trầm buồn. Đó không phải là than thở, mà là sự thừa nhận thực tế.

Đêm xuống, con trai chị hỏi: “Bữa ni tàu ba về chưa?”. Câu hỏi ấy lặp lại trong nhiều ngôi nhà sát biển mỗi khi có tàu cập bến. Phụ nữ ở đây không gọi những điều mình làm là bình đẳng giới. Họ chỉ biết rằng nếu một ngày con tàu không trở lại, người phải đứng lên trước tiên vẫn là mình.

Có con, chồng đi biển, ngoài cảnh nhà quanh năm vắng điểm tựa đàn ông, những người mẹ, người vợ ngư dân dù xác định rằng bất trắc có thể xảy đến với gia đình mình bất kể lúc nào, nhất là mùa mưa bão.

Rồi mỗi lần chồng đi biển họ đong những ngóng chờ vào từng mắt lưới. Lặng nghe trong mỗi con sóng bạc đầu những thông điệp tự khơi xa. Mùa bão nổi, ngày lốc gió, giữa đêm đen, những ngọn đèn hy vọng vẫn cháy trong tay những người vợ mỏng manh ấy với nỗi lo âu đón đợi chồng về. Họ cũng bỏ quên câu ca đắng ngắt: Lấy chồng nghề ruộng em theo/ Lấy chồng nghề biển hồn treo cột buồm…

Năm tháng đi qua, những con sóng biển vẫn cao thấp theo mùa, những người đàn ông vẫn cưỡi sóng ra khơi, những “mảnh hồn” lại thêm một lần khắc khoải neo bám theo cột buồm.

Mỗi lần chồng đi biển, phụ nữ làng chài Gia Lai đong những ngóng chờ vào từng mắt lưới, lặng nghe trong mỗi con sóng bạc đầu những thông điệp tự khơi xa.

Mỗi lần chồng đi biển, phụ nữ làng chài Gia Lai đong những ngóng chờ vào từng mắt lưới, lặng nghe trong mỗi con sóng bạc đầu những thông điệp tự khơi xa.

Ở làng chài nghèo này, năm nào cũng có vài người đàn ông mất tích trên biển, không tìm được xác và những người phụ nữ của họ vẫn cứ chờ đợi. Những bát hương lần lượt đặt trên bàn thờ, nhưng những người vợ vẫn hi vọng và chờ đợi, chờ đợi... đến mỏi mòn.

Làng chài Hoài Hải nhỏ bé chừng vài bước chân là đã hết ấy vậy mà chúng tôi đi mãi vẫn không ghi hết những câu chuyện buồn của những người phụ nữ lấy chồng nghề biển sống trong làng chài ấy.

Tuy nhiên, thích nghi không đồng nghĩa với bình đẳng. Khi phụ nữ gánh sinh kế nhưng chưa được trao quyền tương xứng trong quyết định tài sản và tiếp cận nguồn lực, khoảng trống chính sách vẫn còn hiện hữu. Bình đẳng giới ở làng biển vì thế không chỉ là câu chuyện của sự bền bỉ cá nhân, mà là câu chuyện về quyền lực kinh tế và sự thừa nhận chính thức đối với những đóng góp vốn đã tồn tại từ lâu.

Ngoài kia, sóng vẫn đánh đều. Và trước khi trời sáng, những người đàn bà lại có mặt ở bến cá, giữ cho dòng tiền không đứt đoạn, giữ cho mái nhà không nghiêng theo con nước. Họ không ra khơi, nhưng chính họ mới là người đứng mũi chịu sóng lâu nhất.

An Yên (Ảnh: Nguyễn Gia)

Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/nhung-nguoi-phu-nu-gong-minh-ganh-sinh-ke-tren-ben-ca-tam-quan-ar1006809.html