Pác Bó - nơi khởi nguồn cho những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam
Mùa Xuân năm 1941 đã đi vào sử sách dân tộc như một mốc son định mệnh, mở ra chương mới cho cuộc trường chinh giải phóng đất nước. Tại cột mốc 108 nơi biên giới Cao Bằng, bước chân của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau gần 30 năm bôn ba đã chạm vào mảnh đất địa đầu Tổ quốc. Pác Bó khi ấy không chỉ là nơi dừng chân, mà đã trở thành 'đại bản doanh', nơi khởi nguồn cho những quyết sách chiến lược đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Bác Hồ bắt tay thăm hỏi các cụ già khi về thăm Pác Bó dịp Xuân Tân Sửu 1961. Ảnh: Tư liệu
Điểm dừng chân đầu tiên sau ba thập kỷ bôn ba
Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, làm rung chuyển cục diện toàn cầu và tác động mạnh mẽ đến Đông Dương. Trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình, vấn đề độc lập dân tộc trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. Khi ấy, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang công tác tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa (thuộc Trường Đại học Phương Đông). Với tầm nhìn chiến lược, Người nhận định: “Là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”.
Trước đó, ngày 29/9/1938, được sự đồng ý của Quốc tế Cộng sản, Người rời Moscow, Nga với nhiệm vụ “đến Trung Quốc để công tác trong Đảng Cộng sản Đông Dương”. Thông qua Đảng Cộng sản Trung Quốc, Người bắt liên lạc với Chi bộ Vân Quý và Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng tại Côn Minh. Đến cuối tháng 10/1940, Người cùng các cán bộ rời Côn Minh về Quế Lâm, rồi xuống Tĩnh Tây để nghiên cứu phương án trở về Tổ quốc.
Sáng ngày 28/1/1941 (tức mùng 2 Tết Tân Tỵ), Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Văn Cáp và người dẫn đường Hoàng Sâm đã vượt qua cột mốc 108. Khoảnh khắc Người đặt chân lên mảnh đất Pác Bó (xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng) đã trở thành dấu mốc xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Pác Bó-vùng đất phên giậu địa đầu chính là nơi hội tụ đủ cả “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để xây dựng căn cứ địa, mở ra thời kỳ phát triển mới cho tiến trình cách mạng Việt Nam.

Bàn đá nơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi làm việc để viết tài liệu, dịch sử Đảng và chỉ đạo cách mạng năm 1941 tại Pác Bó, Cao Bằng. Đây là kỷ vật thiêng liêng thể hiện ý chí kiên cường và phong cách sống giản dị của Bác. Ảnh: Minh Ngọc
Dự báo thiên tài bên dòng suối Lê Nin
Giữa hang đá lạnh lẽo và dòng suối trong vắt được Người đặt tên là Lê Nin, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã cùng Trung ương Đảng miệt mài chuẩn bị cho phong trào cách mạng. Bằng nhãn quan chính trị sắc bén, Người đã đưa ra những dự báo chính xác đến kinh ngạc về thời cơ cách mạng.
Dự báo này được thể hiện rõ nhất trong bài thơ “Lịch sử nước ta” (viết cuối năm 1941, lấy bút danh Hồ Chí Minh). Bài thơ gồm 236 câu lục bát, ca ngợi trang sử hào hùng từ thời Hồng Bàng. Điều đặc biệt nằm ở phần phụ lục, nơi Người ghi lại những năm tháng quan trọng và đưa ra lời tiên lượng: “Năm 1945-Việt Nam độc lập”.
Thực tế lịch sử cho thấy, mãi đến năm 1943, các nước lớn trong phe Đồng minh vẫn dự tính phải đến năm 1946 mới có thể kết thúc chiến tranh. Thế nhưng, ngay từ cuối năm 1941, từ hang núi Pác Bó, Người đã nhìn thấy ánh sáng của ngày độc lập năm 1945. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng cảm thán: “Những điều tiên tri đó thuộc về những thiên tài”. Chính dự báo thiên tài này là kim chỉ nam để Đảng và Mặt trận Việt Minh chủ động xây dựng thực lực, đón thời cơ phát động Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công.
Quyết sách chiến lược thay đổi vận mệnh
Ngay tại mảnh đất Cao Bằng, Người đã cùng Trung ương Đảng đưa ra nhiều quyết sách đúng đắn để hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc. Đỉnh cao là Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5/1941) tại Khuổi Nậm, Pác Bó. Dưới sự chủ trì của Người, hội nghị đã khẳng định nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng dân tộc, chỉ đạo xây dựng căn cứ địa và lực lượng vũ trang.
Cũng tại đây, theo sáng kiến của Người, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) đã ra đời nhằm đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước. Mục tiêu của Việt Minh hết sức súc tích, nhưng lay động triệu trái tim: “1. Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; 2. Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do”. Những quyết sách này đã định hình hướng đi cho cách mạng Việt Nam giai đoạn 1941-1945, tạo tiền đề vững chắc cho thắng lợi cuối cùng.

Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng tuần tra bảo vệ biên giới. Ảnh: Minh Ngọc
Nơi khai sinh “Đội quân thép” từ nhân dân
Thấm nhuần quan điểm: “Muốn giải phóng thì phải đánh phát xít Nhật và Pháp. Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự”, Người đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang. Thực hiện chỉ đạo của Người (1/1941), đồng chí Lê Quảng Ba đã thành lập Đội du kích Pác Bó gồm 12 đội viên (11 nam, 1 nữ) tại bãi ruộng Pài Co Nhản-Pác Bó. Người cử đồng chí Lê Quảng Ba làm Đội trưởng, đồng chí Lê Thiết Hùng làm Chính trị viên, đồng chí Trần Sơn Hùng (tức Hoàng Sâm) làm Đội phó.
Tại hang Cốc Bó, Người miệt mài biên soạn các tài liệu huấn luyện như: Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Tàu, Kinh nghiệm du kích Nga... và soạn thảo 10 điều kỷ luật (tiền thân 10 lời thề danh dự của Quân đội ta). Người đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc dựa vào dân: “Chủ yếu là dựa vào nhân sơn, nhân hải” và phương châm “người trước, súng sau”, chính trị trọng hơn quân sự.
Sức mạnh từ Pác Bó lan tỏa, dẫn đến sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân vào ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo. Với 34 chiến sĩ dưới sự chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp, thực hiện chỉ thị của Người: “Trận đầu nhất định phải thắng lợi”, đội quân ấy đã lập nên kỳ tích Phai Khắt, Nà Ngần, mở đầu cho truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng.
Kỷ niệm 85 năm Ngày Bác Hồ trở về nước (1941-2026), giữa không khí hân hoan đón chào thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, chúng ta càng thấm thía giá trị thiêng liêng của vùng đất Pác Bó. Đối với mỗi chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đang canh giữ từng tấc đất nơi phên giậu, tinh thần Pác Bó chính là nguồn sức mạnh tinh thần bất diệt. Đó là điểm tựa để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vững bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, xây dựng một đất nước Việt Nam hùng cường trên nền tảng mà Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt những viên gạch đầu tiên tại vùng biên cương năm ấy.
Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Văn Trường, Học viện Chính trị













