Phát huy vai trò cộng đồng trong chi trả giảm phát thải khí nhà kính tại Nghệ An
Hiện nay, việc thực hiện các chính sách chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) theo Nghị định số 107/2022/NĐ-CP ngày 28/12/2022 của Chính phủ; cộng đồng vùng cao luôn góp phần nâng cao hiệu quả quyền chủ động quản lý, bảo vệ rừng, sinh kế bền vững và minh bạch hóa nguồn tài chính môi trường.
Tại Nghệ An, nhìn những cánh rừng tự nhiên trải dài qua các xã Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp...có một sự thay đổi lớn đang diễn ra trong nếp nghĩ, nếp làm của hàng vạn hộ dân sống dựa vào rừng. Đó là khi người dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số, không còn đơn thuần là đối tượng được tuyên truyền, vận động bảo vệ rừng, mà đã trở thành chủ thể trực tiếp tham gia quản lý, giám sát và hưởng lợi từ chính sách chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ.
Với hơn 975 nghìn ha đất có rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên trên 790 nghìn ha, Nghệ An là một trong những tỉnh có diện tích rừng lớn nhất cả nước. Phần lớn diện tích rừng gắn liền với sinh kế của cộng đồng dân cư thôn bản, những người bao đời nay sống gần rừng, giữ rừng bằng tập quán và tri thức bản địa. Khi ERPA được triển khai thí điểm tại Nghệ An từ năm 2023, vai trò của cộng đồng đã được đặt ở vị trí trung tâm, không chỉ là người được hưởng lợi mà còn là một mắt xích quan trọng trong toàn bộ chuỗi giám sát, quản lý và sử dụng nguồn kinh phí.

Kiểm tra công trình làm đèn chiếu sáng năng lượng mặt trời tại bản Mới, xã Hùng Chân được hỗ trợ từ nguồn kinh phí ERPA
Trong giai đoạn thực hiện ERPA, đã có hơn 1.100 lượt cộng đồng dân cư tham gia hoạt động quản lý bảo vệ rừng với các chủ rừng là tổ chức, phần lớn trong số đó là cộng đồng dân tộc thiểu số. Vai trò của cộng đồng ở đây được thể hiện cụ thể qua việc trực tiếp nhận khoán, tổ chức tuần tra, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại rừng trên diện tích được giao; đồng thời tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động bảo vệ rừng hằng tháng với chủ rừng là tổ chức theo hợp đồng giao khoán đã cam kết. Kết quả của sự tham gia đó được phản ánh rõ qua số liệu giải ngân. Cụ thể, số tiền ERPA đã chi trả cho hoạt động khoán bảo vệ rừng trong các năm 2024-2025 trên toàn tỉnh đạt hơn 100 tỷ đồng. Đây không chỉ là con số về mặt tài chính, mà còn phản ánh một cách tiếp cận quản trị rừng dựa vào cộng đồng đang từng bước định hình rõ nét trên địa bàn tỉnh.
Điểm đáng chú ý trong cách triển khai ERPA tại Nghệ An là việc các cộng đồng tham gia hoạt động quản lý bảo vệ rừng với chủ rừng, ngoài nhận khoán bảo vệ rừng thì còn có thể nhận hỗ trợ sinh kế với kinh phí tối đa 50 triệu đồng/năm để xây dựng, nâng cấp, cải tạo các công trình phục vụ sinh hoạt cộng đồng như: hệ thống điện chiếu sáng, công trình nước sạch nông thôn, hỗ trợ cây giống… Lũy kế từ khi triển khai đến nay đã có gần 1000 công trình sinh kế được thực hiện cho các cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng, với kinh phí đã chi trả hơn 47 tỷ đồng. Những công trình đã phát huy hiệu quả, có ý nghĩa lớn đối với đời sống của bà con vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện hạ tầng còn nhiều thiếu thốn, qua đó góp phần cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần và củng cố thêm niềm tin giữ rừng của những người sống gần rừng.

Công trình làm đường bê tông nông thôn tại thôn Thuỷ Hoà, xã Kim Bảng
Không chỉ dừng lại ở việc thụ hưởng, cộng đồng dân cư thôn bản tại Nghệ An còn đóng vai trò chủ động trong công tác giám sát thực hiện ERPA. Các chủ rừng là tổ chức được giao trách nhiệm xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động bảo vệ rừng hằng tháng đều phối hợp với cộng đồng nhận khoán trong việc lập hồ sơ, xây dựng dữ liệu liên quan đến công tác giao khoán bảo vệ rừng, cũng như thực hiện các mô hình sinh kế tại cộng đồng. Tính đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức 460 cuộc kiểm tra, giám sát do Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cùng các chủ rừng là tổ chức phối hợp thực hiện, trong đó có sự tham gia, phản hồi trực tiếp từ phía cộng đồng và người nhận khoán.
Việc phát huy vai trò cộng đồng cũng được thể hiện qua sự đổi mới trong công tác tuyên truyền, tập huấn nâng cao nhận thức theo hướng gần dân, sát thực tiễn hơn. Trong giai đoạn 2023-2025, toàn tỉnh đã tổ chức 185 lớp tập huấn, tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện tại các xã có chi trả ERPA; đồng thời thiết kế, cấp phát nhiều ấn phẩm truyền thông gắn với nội dung chính sách như ba lô học sinh, áo mưa đi rừng, bình giữ nhiệt, kẹp file tài liệu… Trong thời gian tới, hình thức tuyên truyền tiếp tục được tăng cường và đa dạng hóa, hướng đến thế hệ trẻ thông qua việc tổ chức các hội thi "Rung chuông vàng" tìm hiểu về bảo vệ rừng và ERPA tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn hưởng lợi, đây là bước đi dài hạn trong việc gieo mầm ý thức giữ rừng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Bà Lữ Thị Lê, đại diện Cộng đồng bản Khe Tỳ, xã Hữu Kiệm chia sẻ tại Hội thảo tổng kết kế hoạch chia sẻ lợi ích thuộc Chương trình xây dựng kiến thức và năng lực EnABLE nhằm hỗ trợ triển khai ERPA.
Cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, việc phát huy vai trò cộng đồng trong thực hiện ERPA tại Nghệ An không phải không có khó khăn. Mức hỗ trợ sinh kế 50 triệu đồng/cộng đồng/năm được đánh giá là còn khá thấp so với nhu cầu thực tế, nhất là ở những cộng đồng vùng sâu, vùng xa nơi giá thành vật liệu xây dựng cao do cự ly vận chuyển. Nhận thức của một bộ phận người dân về tín chỉ carbon rừng nói riêng và giá trị môi trường của rừng nói chung vẫn còn hạn chế… Đây là những vấn đề mà Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã nhận diện và đề xuất Trung ương xem xét điều chỉnh, bổ sung trong các chương trình tiếp theo.
Nhìn lại chặng đường thí điểm ERPA tại Nghệ An, có thể thấy rằng chính sự vào cuộc chủ động, tích cực của cộng đồng dân cư thôn bản là một trong những yếu tố quyết định để chính sách mới đi vào cuộc sống một cách thực chất. Khi người dân được trao quyền tham gia giám sát, được hưởng lợi trực tiếp và công khai, minh bạch từ nguồn thu dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, thì ý thức bảo vệ rừng cũng được thay đổi, nâng cao một cách bền vững.
Đó chính là nền tảng để Nghệ An tiếp tục nhân rộng mô hình quản trị rừng dựa vào cộng đồng trong giai đoạn phát triển tiếp theo, khi chính sách chi trả giảm phát thải khí nhà kính được kỳ vọng sẽ mở rộng cả về quy mô và chiều sâu.

