Phối hợp đồng bộ chính sách, tạo nền tảng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững
Tín dụng tiếp tục là điểm sáng trong điều hành chính sách tiền tệ năm 2025 khi tăng trưởng đạt khoảng 19% - mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây...

Ngành Ngân hàng tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột của chính sách tiền tệ
Ngành Ngân hàng - trụ cột cho tăng trưởng
Năm 2025 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều bất định, khi căng thẳng địa chính trị kéo dài, chính sách thuế quan thay đổi và xu hướng thắt chặt tài chính toàn cầu tiếp tục gây sức ép lên tăng trưởng. Ở trong nước, thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp với cường độ và mức độ thiệt hại vượt nhiều kỷ lục lịch sử, đặt ra không ít thách thức cho điều hành kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ của Chính phủ và các cơ quan quản lý, kinh tế Việt Nam vẫn ghi nhận nhiều kết quả tích cực: Năm 2025, CPI bình quân tăng 3,31%, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra; lạm phát cơ bản tăng 3,21%, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, tăng trưởng GDP đạt 8,02% - mức tăng nổi bật trong bức tranh kinh tế toàn cầu, qua đó củng cố niềm tin thị trường và tạo đà cho giai đoạn phát triển 2026 - 2030.
Trong thành công chung đó, ngành Ngân hàng tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột của chính sách tiền tệ. Các công cụ được điều hành chủ động, linh hoạt và phối hợp đồng bộ, điều tiết lượng tiền hợp lý, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, bảo đảm hoạt động hệ thống thông suốt trong bối cảnh lãi suất quốc tế và đồng USD biến động khó lường, rủi ro toàn cầu gia tăng tác động đến dòng vốn và thị trường trong nước.
Đáng chú ý, tín dụng tiếp tục là điểm sáng trong điều hành chính sách tiền tệ năm 2025 khi tăng trưởng đạt khoảng 19% - mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng chung của nền kinh tế. Kết quả này phản ánh sự điều hành chủ động, linh hoạt và hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước trong phân bổ “dòng vốn đúng hướng”, vừa bảo đảm kiểm soát rủi ro, vừa kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp và người dân.
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam ông Nguyễn Quốc Hùng đánh giá điều hành chính sách tiền tệ trong nhiệm kỳ vừa qua rất thành công, thể hiện ở sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác; điều hành linh hoạt thông qua các công cụ như lãi suất, tỷ giá, thị trường mở và phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, qua đó định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, sản xuất - kinh doanh.
Đánh giá cao công tác điều hành tín dụng năm 2025, TS. Huỳnh Thanh Điền, Giảng viên Đại học Nguyễn Tất Thành nhận định, tăng trưởng tín dụng được điều tiết phù hợp với diễn biến nền kinh tế, dòng vốn tập trung vào sản xuất - kinh doanh và đầu tư hạ tầng, trong khi các lĩnh vực rủi ro như bất động sản, chứng khoán, vàng… được kiểm soát chặt chẽ. Qua đó góp phần hỗ trợ tăng trưởng GDP đạt 8,02% và giữ lạm phát (CPI) ở mức 3,31%, hoàn thành mục tiêu Quốc hội đề ra…
Phối hợp chính sách tài khóa – tiền tệ nhuần nhuyễn hơn
Bước sang năm 2026, môi trường kinh tế được dự báo tiếp tục nhiều biến động khi tăng trưởng toàn cầu suy giảm, rủi ro địa chính trị gia tăng, chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn khó dự đoán, xu hướng phân mảnh thương mại ngày càng rõ nét, cùng sức ép từ biến đổi khí hậu và chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng. Với độ mở cao, kinh tế Việt Nam sẽ chịu tác động trực tiếp từ những cú sốc bên ngoài, trong khi yêu cầu đặt ra ngày càng lớn: vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, vừa tạo dư địa cho mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.
Định hướng này được cụ thể hóa ngay trong Chỉ thị số 01/ CT-NHNN - văn bản điều hành đầu tiên của năm 2026. Chỉ thị nêu rõ, NHNN điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, phấn đấu kiểm soát lạm phát bình quân khoảng 4,5%, qua đó góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế bền vững.
Một trong những điểm nhấn quan trọng của Chỉ thị số 01/ CT-NHNN là định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 ở mức khoảng 15%, đồng thời tiếp tục để ngỏ dư địa điều chỉnh tăng hoặc giảm phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và nhu cầu vốn thực tế. Cách tiếp cận linh hoạt này cho thấy quan điểm điều hành thận trọng nhưng chủ động của NHNN nhằm bảo đảm vừa đáp ứng yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng, vừa kiểm soát áp lực lạm phát và rủi ro hệ thống.
Trên cơ sở đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng định hướng dòng vốn tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các ngành ưu tiên, đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản, không để tốc độ tăng trưởng vượt quá mức tăng tín dụng chung của từng ngân hàng. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm hạn chế rủi ro tập trung vốn vào các lĩnh vực tiềm ẩn biến động, tránh tình trạng mở rộng tín dụng bằng mọi giá góp phần nâng cao chất lượng tín dụng, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống và hướng dòng vốn vào các động lực tăng trưởng thực chất của nền kinh tế.
Mặt khác, tăng cường rà soát, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, đảm bảo chặt chẽ, an toàn… Song, trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, thách thức, dư địa chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng ngày càng thu hẹp, để có thể thực hiện các mục tiêu tăng trưởng cao gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, đòi hỏi sự thận trọng, linh hoạt và phối hợp đồng bộ hơn giữa các chính sách.
Để thực hiện các mục tiêu đặt ra, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà cho rằng, cần tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ tích cực lẫn nhau giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để phát huy hiệu quả và thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Trong đó, trọng tâm là nâng cao chất lượng phối hợp giữa các chính sách trên cơ sở bám sát diễn biến thực tiễn, chia sẻ thông tin kịp thời, đồng thời phát huy đúng vai trò của từng chính sách để hướng tới phát triển bền vững.
Dưới góc độ nghiên cứu, TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính (Học viện Tài chính) nhận định, trong bối cảnh tỷ lệ tín dụng/ GDP đã ở mức cao, mục tiêu tăng trưởng khoảng 10% trong năm 2026 đòi hỏi nền kinh tế phải dựa nhiều hơn vào chính sách tài khóa. Theo ông, chính sách tiền tệ nên tập trung vào vai trò giữ ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng thay vì tiếp tục là động lực chính.
Ở tầm điều hành vĩ mô, tại Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ cũng đã xác định rõ định hướng này khi nhấn mạnh chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, giữ vai trò trụ cột hỗ trợ tăng trưởng, trong khi chính sách tiền tệ tập trung vào ổn định và điều tiết vĩ mô. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh dư địa tài khóa còn tương đối lớn và phải hỗ trợ tích cực cho chính sách tiền tệ thông qua đẩy mạnh đầu tư công, phát hành trái phiếu cho các dự án trọng điểm, nhất là trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Qua đó chia sẻ áp lực với chính sách tiền tệ và tạo thêm động lực cho tăng trưởng.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động khó lường, độ mở lớn khiến Việt Nam dễ chịu tác động từ bên ngoài, việc chính sách tiền tệ chuyển trọng tâm sang ổn định vĩ mô không phải là lựa chọn ngắn hạn, mà là chiến lược dài hạn. Đây cũng là điều kiện nền tảng để chính sách tiền tệ tiếp tục đóng góp hiệu quả vào mục tiêu tăng trưởng cao, hướng tới hai con số, nhưng trên cơ sở bền vững và an toàn.












