Phục hồi các dòng sông ô nhiễm: Cần đồng bộ giải pháp từ kỹ thuật đến quản lý
Hệ thống sông Nhuệ - Đáy, Bắc Hưng Hải và sông Ngũ Huyện Khê đang chịu áp lực ô nhiễm ngày càng lớn. “Hồi sinh” những dòng sông này không chỉ là bài toán môi trường cấp bách, mà còn là nhiệm vụ chiến lược để bảo đảm an ninh nguồn nước và mở thêm không gian phát triển.

Các hệ thống sông như sông Nhuệ hay Bắc Hưng Hải, vận hành tương tự như các con kênh thủy lợi lớn, việc phục hồi còn phải tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật về lưu lượng tối thiểu và vận tốc dòng chảy - Ảnh: Chinhphu.vn/Thu Anh
Báo Chính phủ đã có cuộc trao đổi với GS.TS. Đào Xuân Học, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam về các giải pháp kỹ thuật, điều kiện tiên quyết và cơ chế quản trị lưu vực để khôi phục bền vững các dòng sông.
Thưa ông, hiện nay dư luận và nhân dân rất quan tâm đến việc phục hồi các dòng sông ô nhiễm. Dưới góc độ chuyên môn thủy lợi và tài nguyên nước, thế nào mới được coi là một dòng sông đã được phục hồi bền vững?
GS.TS. Đào Xuân Học: Theo quy định của Luật Tài nguyên nước, nguyên tắc căn bản để một dòng sông được coi là phục hồi là phải bảo đảm dòng chảy môi trường. Tức là dòng sông phải duy trì được dòng chảy tối thiểu, thường chiếm khoảng hơn 30% lưu lượng bình quân mùa kiệt của nhiều năm. Dòng chảy môi trường này là điều kiện bắt buộc để duy trì sự sống, khôi phục và duy trì bền vững hệ sinh thái đa dạng sinh học dọc theo hành lang sông.
Bên cạnh yếu tố lưu lượng, chất lượng nước phải được cải thiện rõ rệt, đáp ứng tốt các nhu cầu tưới tiêu nông nghiệp, sinh hoạt và sản xuất của nhân dân mà không gây độc hại hay ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Đặc biệt, đối với các hệ thống sông như sông Nhuệ hay Bắc Hưng Hải, do bản chất vận hành hiện nay tương tự như các con kênh thủy lợi lớn, việc phục hồi còn phải tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật về lưu lượng tối thiểu và vận tốc dòng chảy. Việc này bảo đảm dòng chảy không bị quá chậm gây nên bồi lắng phù sa hay ách tắc lòng dẫn. Như vậy, một dòng sông chỉ thực sự "sống lại" khi giải quyết đồng thời hai bài toán cốt lõi: bảo đảm lưu lượng dòng chảy tối thiểu và khôi phục chất lượng nước đạt chuẩn.
Hiện nay, Bộ NN&MT đã đề xuất Đề án thí điểm bổ cập nước tự chảy với lưu lượng lên tới 120 m³/s cho Bắc Hưng Hải, 200 m³/s cho sông Nhuệ - Đáy và 28 m³/s cho Ngũ Huyện Khê. Giáo sư đánh giá như thế nào về tính khả thi của phương án này?
GS.TS. Đào Xuân Học: Tôi đánh giá phương án kỹ thuật mà Bộ NN&MT đề xuất là hoàn toàn phù hợp và khoa học. Hiện nay, do hoạt động khai thác cát quá mức kéo dài nhiều năm, mực nước mùa kiệt của sông Hồng đã bị hạ thấp khoảng 3,5 m, còn sông Đuống hạ gần 5 m so với trước những năm 1990. Hệ quả là tất cả các cống lấy nước tự chảy vào Xuân Quang, Liên Mạc, sông Đáy và các trạm bơm đều rơi vào tình trạng trơ đáy, không thể tự chảy và bơm nước vào hệ thống.
Để lấy được lưu lượng bổ cập khoảng 350 m³/s cho toàn vùng, về mặt công trình chỉ có hai con đường: xây dựng trạm bơm hoặc làm đập dâng để nâng mực nước. Giải pháp xây dựng đập dâng đặt dưới cống Xuân Quan (trên sông Hồng) và dưới cống Long Tửu (trên sông Đuống) là tối ưu nhất. Khi đập dâng dâng mực nước lên, nước sẽ tự chảy ôn định vào hệ thống Bắc Hưng Hải, sông Nhuệ, sông Đáy và Ngũ Huyện Khê mà không tốn chi phí điện năng vận hành bơm khổng lồ.
Đặc biệt, đập dâng trên sông Đuống và sông Hồng còn mang ý nghĩa chiến lược về mặt kỹ thuật thủy văn. Hiện nay, do lòng sông Đuống bị xói sâu, tỷ lệ phân lũ từ sông Hồng sang sông Đuống gia tăng bất thường, làm tăng nguy cơ đe dọa an toàn toàn bộ hệ thống đê điều sông Hồng - Thái Bình. Việc xây dựng đập dâng sẽ giúp chủ động điều tiết, giữ tỷ lệ phân lưu mùa lũ, bảo đảm an toàn cho vùng hạ lưu.
Với các dòng sông vừa suy thoái dòng chảy vừa tiếp nhận lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp rất lớn, đâu là nút thắt tiên quyết để phục hồi bền vững, thưa Giáo sư?
GS.TS. Đào Xuân Học: Thực tế hiện nay rất xót xa khi nguồn nước sông Nhuệ - Đáy bị ô nhiễm nặng do tiếp nhận phần lớn nước thải chưa qua xử lý từ Hà Nội, khiến người dân các vùng hạ lưu như Hà Nam không thể dùng nước sông để tưới tiêu hay sinh hoạt. Để phục hồi bền vững, chúng ta bắt buộc phải tiến hành song song hai giải pháp: đưa nguồn nước sạch vào pha loãng, tạo dòng chảy và kiểm soát tận gốc các nguồn xả thải.
Nút thắt quan trọng nhất là phải có lộ trình kiểm soát xả thải rõ ràng và kiên quyết. Trong các quy hoạch và chiến lược quốc gia, mục tiêu đặt ra đến năm 2030 là 100% nước thải từ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị mới và làng nghề phải được xử lý triệt để đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường. Đây là điều kiện bắt buộc. Còn đối với nước thải sinh hoạt khu vực dân cư, chúng ta cần đầu tư hệ thống thu gom và xử lý từng bước.
Nếu chỉ bổ cập nước mà không ngăn xả thải ô nhiễm thì sông vẫn bị ô nhiễm và ngược lại, nếu chỉ xử lý nước thải mà lòng sông cạn kiệt, không có dòng chảy môi trường thì hệ sinh thái sông cũng không thể phục hồi.

GS.TS. Đào Xuân Học: "Nếu không có cơ chế quản trị thống nhất và công cụ điều hành theo thời gian thực thì rủi ro mất an toàn nguồn nước và thiên tai domino là rất lớn" - Ảnh: Chinhphu.vn/Đỗ Hương
Một bất cập lớn hiện nay là các dòng sông chảy qua nhiều địa phương và việc quản lý dòng chảy lại bị chia cắt theo địa giới hành chính. Theo Giáo sư, cần cơ chế nào để quản lý thống nhất trên toàn lưu vực?
GS.TS. Đào Xuân Học: Đây chính là "điểm nghẽn" lớn nhất trong quản lý tài nguyên nước và phòng chống thiên tai hiện nay.
Dòng chảy tự nhiên không dừng lại ở địa giới hành chính của bất kỳ tỉnh, thành nào. Việc quản lý bị chia cắt dẫn đến tình trạng "đoạn trên xả thải, đoạn dưới chịu hậu quả" hoặc vận hành công trình thiếu đồng bộ. Mô hình Ban quản lý lưu vực sông trước đây chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm, thiếu thẩm quyền pháp lý và công cụ tài chính nên hiệu lực điều phối rất hạn chế.
Vừa qua, Hội Thủy lợi Việt Nam đã phối hợp với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Trường Đại học Thủy lợi tổ chức hội thảo khoa học và chính thức gửi văn bản kiến nghị lên Chính phủ. Chúng tôi kính đề nghị Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì rà soát, hoàn thiện cơ chế quản trị lưu vực sông theo hướng tăng cường hiệu lực điều phối thống nhất từ thượng nguồn đến hạ lưu.
Cần xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan điều phối lưu vực sông trong mối quan hệ với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố. Trên một lưu vực có hàng chục hồ chứa thủy điện và công trình thủy lợi liên hoàn, nếu không có cơ chế quản trị thống nhất và công cụ điều hành theo thời gian thực thì rủi ro mất an toàn nguồn nước và thiên tai domino là rất lớn.
Theo dự kiến để thực hiện đề án làm "sống lại" những con sông này sẽ cần hàng chục nghìn tỷ đồng cho các dự án cải tạo. Làm thế nào để khoản đầu tư này tạo ra giá trị lâu dài về an ninh nguồn nước, chống ngập và kiến tạo không gian phát triển mới, thưa Giáo sư?
GS.TS. Đào Xuân Học: Việc đầu tư phục hồi các dòng sông mang lại hiệu quả tổng hợp rất lớn về kinh tế, xã hội và môi trường.
Thứ nhất, về an ninh nguồn nước và tiết kiệm năng lượng: Khi xây dựng đập dâng, chúng ta dâng mực nước sông Hồng để lấy nước tự chảy quanh năm. Nhờ đó, ngành điện không còn phải xả tăng cường hàng tỷ mét khối nước từ các hồ thủy điện lớn như Sơn La, Hòa Bình hay Thác Bà vào mỗi đợt đổ ải nông nghiệp, giúp tiết kiệm nguồn tài nguyên nước vô cùng quý giá để phát điện phủ đỉnh cho nền kinh tế.
Thứ hai, về mặt kỹ thuật công trình, chúng ta hoàn toàn có thể ứng dụng các công nghệ hiện đại như kinh nghiệm của Pháp khi họ xây dựng 23 đập dâng trên sông Ranh. Các đập dâng hiện đại ngày nay được thiết kế cửa van tự động bảo đảm không làm ảnh hưởng đến khả năng thoát lũ, kết hợp hệ thống âu thuyền cho giao thông thủy và đường cho cá đi để bảo tồn hệ sinh thái.
Thứ ba, đúng như chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ, việc phục hồi nguồn nước phải gắn liền với việc quản lý và khai thác hiệu quả khoảng 2.100 ha quỹ đất hình thành sau cải tạo. Việc quy hoạch đồng bộ hành lang cây xanh, không gian công cộng và đô thị sinh thái ven sông sẽ biến các dòng sông chết thành trục cảnh quan xanh, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội mới cho Hà Nội và các tỉnh Đồng bằng sông Hồng.
Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!
Đỗ Hương (thực hiện)
