'Quái thú có cánh' từng gieo kinh hoàng cho chim cổ đại
Loài khủng long mới Jian changmaensis có sải cánh khoảng 1,2 m, được cho là có khả năng lượn và săn những loài chim cổ đại.
Kể từ năm 2002, các nhà nghiên cứu đã khai quật hơn 100 hóa thạch chim cổ đại tại lưu vực Changma, một khu vực hóa thạch ở Tây Bắc Trung Quốc. Những hóa thạch này có niên đại khoảng 120 triệu năm trước.
Một số hóa thạch bao gồm các viên thức ăn bị nôn ra chứa xương vỡ vụn, tương tự như những viên thức ăn mà cú ngày nay thường nhả ra. Các nhà cổ sinh vật học từ lâu cho rằng thủ phạm là một loài khủng long ăn thịt. Tuy nhiên, bằng chứng hóa thạch về loài săn mồi này rất khó tìm thấy.

Loài khủng long mới được mô tả, Jian changmaensis (bên trái) đang phục kích một loài chim Gansus yumenensus ở kỷ Phấn trắng sớm.
Một loài khủng long mới với lông vũ trên cả cánh tay và chân có thể chính là thủ phạm. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng xương vai và xương cánh tay trên được tìm thấy tại cùng khu vực hóa thạch để xác định loài mới này. Được đặt tên là Jian changmaensis, nó thuộc nhóm khủng long microraptor, những loài khủng long nhỏ, di chuyển nhanh, họ hàng của velociraptor nổi tiếng.
Nhóm nghiên cứu đã công bố phát hiện này ngày 4/6 trên tạp chí Annals of Carnegie Museum.
Loài khủng long sinh ra để lượn
Giống như các loài microraptor nổi tiếng khác, loài khủng long mới phát hiện này có khả năng sử dụng “đôi cánh” để bay lên không trung. Theo các nhà nghiên cứu, điều này giúp nó lượn như sóc bay ngày nay.
Microraptor không phải là chim, dù chúng là họ hàng gần. Một số đặc điểm giống chim có thể đã giúp J. changmaensis lượn tốt hơn các loài microraptor khác, theo bà Jingmai O’Connor, nhà cổ sinh vật học tại Bảo tàng Field ở Chicago, Illinois, chuyên nghiên cứu quá trình tiến hóa của chim.
Nhóm của O’Connor đã phát hiện một đặc điểm nổi bật trên xương cánh tay trên (xương cánh tay) của loài khủng long mới này. Các mấu lồi tròn trên xương, gọi là condyle, giúp tạo thành khuỷu tay. Những mấu này ở J. changmaensis có cấu trúc khác biệt so với các loài microraptor khác.
Một cấu trúc ở vai gọi là xương quạ (coracoid) cũng dài hơn ở J. changmaensis. “Những đặc điểm này rất giống chim,” O’Connor nhận xét.
Nhóm nghiên cứu cho biết, loài săn mồi này có kích thước lớn hơn nhiều so với các loài chim cổ đại mà nó săn mồi. Với sải cánh ước tính khoảng 1,22 mét (4 feet), loài khủng long mới này thuộc nhóm microraptor lớn nhất từng được phát hiện. Sải cánh của nó tương đương với cú lợn barn owl ngày nay.

Các nhà nghiên cứu đã sử dụng hóa thạch mới phát hiện để xác định danh tính của một loài khủng long biết lượn mới có sải cánh khoảng 1,2 mét.
Thêm hiểu biết về hệ sinh thái cổ đại
Phát hiện này không chỉ giải đáp câu hỏi ai đã săn mồi các loài chim cổ đại ở lưu vực Changma, mà còn đánh dấu lần đầu tiên hóa thạch khủng long không phải chim được tìm thấy tại khu vực này.
“Đây là một ghi nhận mới từ hệ sinh thái cổ đại đặc biệt đó, rất đáng chú ý,” ông Michael Pittman, nhà cổ sinh vật học nhận xét.
Trước phát hiện này, tất cả các loài microraptor cùng thời đều được tìm thấy ở các địa điểm tại Đông Bắc Trung Quốc. Pittman không tham gia nghiên cứu mới, nhưng ông chuyên nghiên cứu quá trình tiến hóa bay của động vật.
O’Connor cho biết, việc xác định mức độ hiệu quả của loài săn mồi này khi phục kích con mồi trong lúc lượn vẫn còn nhiều thách thức. Các loài chim mà nó săn mồi có thể là những loài bay mạnh mẽ và linh hoạt hơn. Tuy nhiên, hóa thạch mới này sẽ giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về quá trình tiến hóa của khả năng bay.
Những hóa thạch như J. changmaensis cho thấy chim không phải là loài duy nhất có khả năng bay lên không trung, theo Pittman. Phát hiện này cũng cho thấy vai trò của microraptor trong các hệ sinh thái khác nhau.
“Khả năng bay là một đặc ân đặc biệt, nhưng vẫn còn rất nhiều điều chúng ta chưa hiểu hết”, O’Connor nói thêm.
Giả thuyết được thừa nhận nhiều nhất về sự tuyệt chủng của khủng long.

