Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh: Kiến tạo cực tăng trưởng mới của vùng Bắc Bộ
Việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 đã đánh dấu bước hoàn thiện khung phát triển của thành phố Quảng Ninh sau khi được thành lập, mở ra một giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn dài hạn.

Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 (quy hoạch chung) được phê duyệt theo Quyết định số 1123/QĐ-TTg ngày 23/6/2026 bởi Thủ tướng Chính phủ, nhằm xây dựng Quảng Ninh thành đô thị trực thuộc Trung ương hiện đại, thông minh, xanh và bền vững.
Tầm nhìn mới cho một đô thị mới
Với Quảng Ninh, quy hoạch chung chính là "kim chỉ nam" cho quá trình chuyển mình từ một không gian phát triển theo địa giới hành chính sang mô hình đô thị thống nhất, hiện đại và hội nhập. Điểm khác biệt của quy hoạch lần này nằm ở cách tiếp cận tổng thể.
Thay vì phát triển theo từng khu vực riêng lẻ, toàn bộ địa giới hành chính thành phố Quảng Ninh được xác định là một không gian phát triển thống nhất, tổ chức theo mô hình đa trung tâm, trong đó các đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, vùng ven biển, miền núi và nông thôn được kết nối trong một chỉnh thể phát triển hài hòa.
Đây là bước chuyển quan trọng về tư duy quy hoạch. Không gian đô thị không còn được nhìn nhận đơn thuần là nơi tập trung dân cư hay mở rộng xây dựng, mà trở thành nền tảng để phân bổ nguồn lực, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng sống. Quy hoạch chung vì thế không chỉ giải quyết nhu cầu của hiện tại mà còn tạo dư địa cho những động lực tăng trưởng mới trong tương lai.
Theo đánh giá của Hội đồng thẩm định Bộ Xây dựng trước khi quy hoạch được phê duyệt, Quảng Ninh đã hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi về hạ tầng, tỷ lệ đô thị hóa và chất lượng phát triển. Tuy nhiên, việc trở thành thành phố trực thuộc Trung ương cũng đồng nghĩa với những yêu cầu cao hơn về năng lực quản trị, chất lượng tăng trưởng, phát triển xanh và khả năng cạnh tranh trong khu vực.
Một trong những giá trị lớn nhất của quy hoạch là xác lập rõ cấu trúc phát triển của thành phố Quảng Ninh trong tương lai. Theo kế hoạch triển khai, đến năm 2030, địa phương sẽ hoàn thành khoảng 70 quy hoạch phân khu đô thị và khu chức năng, 18 quy hoạch chung cấp xã cùng các quy hoạch chuyên ngành về giao thông, cấp nước, thoát nước, cao độ nền và không gian ngầm. Đây sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai các dự án đầu tư đồng bộ, tránh tình trạng phát triển manh mún và khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai.
Không gian phát triển sẽ được mở rộng theo chuỗi đô thị ven biển, các khu kinh tế, khu công nghiệp và hành lang giao thông chiến lược. Trong đó, mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD) được xác định là định hướng xuyên suốt nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, giảm áp lực giao thông và hình thành các trung tâm đô thị hiện đại.
Đặc biệt, lần đầu tiên, các quy hoạch chuyên ngành được yêu cầu tích hợp trên nền tảng GIS, tạo cơ sở xây dựng hệ thống quản lý đô thị thông minh, điều hành bằng dữ liệu số và từng bước hình thành mô hình chính quyền đô thị hiện đại.
Hơn một thập niên qua, Quảng Ninh tạo dấu ấn bằng hàng loạt công trình hạ tầng quy mô lớn như cao tốc, cảng hàng không quốc tế, cảng biển nước sâu hay những cây cầu kết nối liên vùng. Trong giai đoạn tới, trọng tâm phát triển sẽ chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng không gian đô thị, chất lượng dịch vụ công và chất lượng sống của người dân.

Từ cực tăng trưởng của địa phương đến mắt xích chiến lược của vùng
Quy hoạch chung không chỉ mở rộng không gian đô thị mà còn tái cấu trúc các động lực phát triển của Quảng Ninh. Theo định hướng, Quảng Yên, Cẩm Phả, Quảng Hà và Móng Cái sẽ được đầu tư đồng bộ để phát triển công nghiệp công nghệ cao, cảng biển, logistics, năng lượng và kinh tế biển. Trong khi đó, Đặc khu Vân Đồn được định hướng trở thành trung tâm dịch vụ cao cấp, kinh tế biển và du lịch mang tầm quốc tế.
Điều này cho thấy, Quảng Ninh đang hướng tới mô hình phát triển đa cực, trong đó mỗi khu vực đảm nhận một chức năng riêng nhưng được kết nối chặt chẽ bằng hạ tầng giao thông, logistics và nền tảng số.
Theo ông Nguyễn Thanh Hải, Chủ tịch UBND phường Móng Cái 1, việc quy hoạch chung được phê duyệt mở ra dư địa phát triển rất lớn cho địa phương, đặc biệt trong thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng cửa khẩu, thương mại và dịch vụ. Vừa tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, quy hoạch chung còn tạo điều kiện để phát huy tối đa lợi thế của khu vực cửa ngõ giao thương với Trung Quốc.
Ở góc độ rộng hơn, quy hoạch mới sẽ góp phần gia tăng sức hấp dẫn của Quảng Ninh đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao.
Khi chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tái cấu trúc, các nhà đầu tư ngày càng ưu tiên những địa phương có hạ tầng hiện đại, quỹ đất sạch, khả năng kết nối đa phương thức và môi trường đầu tư minh bạch. Đây đều là những lợi thế mà Quảng Ninh đã tạo dựng trong nhiều năm qua và sẽ tiếp tục được củng cố thông qua quy hoạch mới.
Ngoài ra, ý nghĩa của Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh không chỉ dừng ở phạm vi một địa phương. Trong bối cảnh vùng Bắc Bộ đang hình thành mạng lưới liên kết kinh tế ngày càng chặt chẽ giữa Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và các tỉnh Đông Bắc, Quảng Ninh được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối quan trọng của hành lang kinh tế ven biển cũng như cửa ngõ giao thương quốc tế với Trung Quốc và khu vực Đông Bắc Á.
Khác với trước đây khi các địa phương phát triển theo tư duy tương đối độc lập, quy hoạch mới hướng đến việc xây dựng mạng lưới đô thị có tính bổ trợ, kết nối bằng hệ thống cao tốc, cảng biển, cảng hàng không, đường thủy và các trung tâm logistics. Đây sẽ là nền tảng để Quảng Ninh tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Lợi thế này càng trở nên rõ nét khi Quảng Ninh là một trong số ít địa phương của cả nước hội tụ đầy đủ bốn loại hình giao thông chiến lược gồm đường bộ, đường biển, đường hàng không và cửa khẩu quốc tế. Khi hệ thống logistics tiếp tục được hoàn thiện, vùng đất mỏ không chỉ phục vụ nhu cầu phát triển của địa phương mà còn trở thành đầu mối trung chuyển hàng hóa của toàn vùng.

Phát triển nhưng không đánh đổi môi trường
Một điểm nhấn quan trọng của quy hoạch chung là đặt mục tiêu phát triển kinh tế song hành với bảo vệ môi trường và gìn giữ giá trị tự nhiên. Theo định hướng, các vùng lõi di sản, rừng tự nhiên và hệ sinh thái đặc thù sẽ được bảo vệ nghiêm ngặt; các khu đô thị mới phải đáp ứng yêu cầu về phát triển xanh, sử dụng hiệu quả tài nguyên, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải.
Đây cũng là bước chuyển trong tư duy phát triển của Quảng Ninh. Nếu trước đây trọng tâm là tạo dựng hạ tầng và mở rộng không gian phát triển, thì trong giai đoạn mới, chất lượng sống của người dân sẽ trở thành thước đo quan trọng của quá trình phát triển đô thị.
Những không gian công cộng, hạ tầng xã hội, công viên, mặt nước, dịch vụ giáo dục, y tế và văn hóa sẽ ngày càng được chú trọng nhằm xây dựng một thành phố đáng sống, có sức cạnh tranh với các đô thị lớn trong khu vực.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngân sách nhà nước sẽ giữ vai trò dẫn dắt, đồng thời Quảng Ninh tiếp tục đẩy mạnh hợp tác công - tư, thu hút các nhà đầu tư chiến lược và huy động hiệu quả nguồn lực xã hội để triển khai các dự án động lực.
Ngoài ra, quy hoạch chung không dừng lại ở một đồ án quy hoạch xây dựng. Xa hơn, đây là tầm nhìn phát triển cho một đô thị biển hiện đại, nơi hạ tầng, kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao, logistics, du lịch, đổi mới sáng tạo và chất lượng sống được phát triển trong một chỉnh thể thống nhất.
Con đường phía trước vẫn còn nhiều thách thức như huy động nguồn lực, triển khai đồng bộ các dự án, nâng cao chất lượng quản trị đô thị. Tuy nhiên, với nền tảng hạ tầng đã được đầu tư bài bản, môi trường đầu tư thuộc nhóm dẫn đầu cả nước và định hướng phát triển rõ ràng, Quảng Ninh đang sở hữu những điều kiện thuận lợi để chuyển hóa quy hoạch thành động lực tăng trưởng thực chất.
Khi những định hướng trong quy hoạch từng bước được hiện thực hóa, Quảng Ninh sẽ là trung tâm kinh tế biển, logistics và du lịch của miền Bắc, cùng với đó là cơ hội trở thành một đô thị biển hiện đại mang tầm khu vực, đóng góp ngày càng quan trọng vào sự phát triển của vùng Bắc Bộ và nền kinh tế Việt Nam trong những thập niên tới.












