Quy mô doanh nghiệp của Việt Nam còn rất khiêm tốn
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp đặt mục tiêu phát triển 5 triệu chủ thể kinh doanh, tuy nhiên, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam mới tích lũy được khoảng 1 triệu doanh nghiệp. Vướng mắc từ chính sách, năng lực quản trị, khả năng tiếp cận ưu đãi đang là những "điểm nghẽn" lớn trên con đường hiện thực hóa mục tiêu này.
Bức tranh tổng quan về doanh nghiệp Việt Nam
Phát biểu tại Hội thảo Giới thiệu chính sách địa phương thu hút nhà đầu tư, chuyên gia cố vấn, doanh nhân khoa học và công nghệ, doanh nhân khởi nghiệp sáng tạo ngày 22/10, TS Đinh Việt Hòa - Chủ tịch Hiệp hội Khởi nghiệp quốc gia đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về quy mô doanh nghiệp Việt Nam.

TS Đinh Việt Hòa - Chủ tịch Hiệp hội Khởi nghiệp quốc gia. Ảnh: HT.
Theo đó, khi đặt trong tương quan so sánh với các quốc gia trên thế giới, quy mô doanh nghiệp của Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn. Hiện tại, Trung Quốc có 58 triệu doanh nghiệp (riêng thành phố Thâm Quyến có 6 triệu), Mỹ có 36 triệu, Hàn Quốc đạt 7,7 triệu, Nhật Bản có 2,5 triệu và Singapore - một quốc gia chỉ có 6 triệu dân - cũng sở hữu tới 371.000 doanh nghiệp. Trong khi đó, Việt Nam chỉ có khoảng 1 triệu doanh nghiệp - là kết quả tích lũy suốt 40 năm qua.
Mặc dù tinh thần khởi nghiệp tại Việt Nam rất mãnh liệt - thể hiện qua tốc độ thành lập doanh nghiệp mới tăng trung bình 77% kể từ năm 2016 (mỗi năm tăng bình quân gần 10%) - làn sóng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là diễn biến đáng lo ngại.
Năm 2025, cả nước ghi nhận 195.000 doanh nghiệp thành lập mới nhưng có tới 227.000 doanh nghiệp đóng cửa. Xu hướng này tiếp tục lặp lại trong 10 tháng đầu năm khi số doanh nghiệp gia nhập thị trường là 148.000 nhưng số đóng cửa lên tới 180.000.
Bất cập trong quy định quản lý và lỗ hổng năng lực của nhà lãnh đạo
Theo TS Đinh Việt Hòa, một trong những rào cản là các chính sách quản lý hành chính chưa phù hợp và thiếu tính cảnh báo trước khi áp dụng các biện pháp chế tài.
Chẳng hạn như quy định tạm hoãn xuất cảnh đối với người nợ thuế. Theo TS Đinh Việt Hòa, quy định cấm xuất cảnh vì khoản nợ thuế nhỏ (chỉ 100.000 đồng) không chỉ gây thiệt hại trực tiếp hàng chục triệu đồng tiền vé máy bay mà còn làm mất đi các cơ hội hợp tác kinh tế lớn mà các nhà sáng lập có thể mang lại khi ra nước ngoài.
“Chính sách như vậy là chưa phù hợp”, TS Hòa nhận định.
Bên cạnh đó, trạng thái 03 (trạng thái người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế) và trạng thái 06 (trạng thái người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký) cũng đang gây khó khăn cho doanh nghiệp.
“Tại sao chúng ta không tăng cường cảnh báo? Nếu các cơ quan quản lý cảnh báo sớm, doanh nghiệp đã có thể điều chỉnh”, TS Hòa nói.
Về cấp độ doanh nghiệp, năng lực quản trị của nhà sáng lập cũng là rào cản đáng chú ý. Theo ông Hòa, trên 99% doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn do đội ngũ nhà sáng lập ban đầu trực tiếp điều hành mà chưa thực hiện chuyển giao thành công cho thế hệ tiếp nối. Đây có thể là lực cản vô hình cho sự phát triển trong giai đoạn tiếp theo của doanh nghiệp.
Cùng với đó, yêu cầu với nhà sáng lập hiện tại là không thể chỉ giỏi về công nghệ hay sản phẩm mà phải am hiểu cả chuỗi quản trị gồm thuế, điều hành, chiến lược, nhân sự và marketing. Chỉ cần hổng một mắt xích, việc kinh doanh có thể gặp thất bại và doanh nghiệp phải đóng cửa.
Trong khi đó, kết quả khảo sát thực tế 1.736 chủ thể kinh doanh lại cho thấy một thực trạng đáng báo động. 92% nhà sáng lập chưa từng được học qua về quản trị kinh doanh trước khi thành lập doanh nghiệp. 88,9% nhận định việc mở các chương trình đào tạo quản trị cho nhà sáng lập là vô cùng cấp thiết.
Rào cản tiếp theo là khó khăn trong tiếp cận chính sách ưu đãi của Nhà nước.
“Hệ thống văn bản, thông tư, nghị định nhiều tới mức ngay cả các lãnh đạo Sở ngành hay luật sư chuyên nghiệp cũng không thể nắm hết. Do đó, nhiều doanh nghiệp không biết mình thuộc đối tượng hưởng ưu đãi nào”, TS Đinh Việt Hòa nhận xét.
Để gỡ bỏ các rào cản trên và hướng tới mục tiêu 5 triệu chủ thể kinh doanh, theo TS Đinh Việt Hòa, việc thay đổi tư duy quản lý và hỗ trợ doanh nghiệp là điều cần thiết.
“Cơ quan quản lý cần tạo dựng môi trường phát triển tự nhiên như một "khu rừng nguyên sinh" để doanh nghiệp tích lũy nội lực và tạo ra công ăn việc làm cho xã hội”, TS Đinh Việt Hòa nói.
Cùng với đó, ông đề xuất triển khai đồng loạt các giải pháp như tăng cường truyền thông chính sách; đào tạo chuyên gia để có đội ngũ tư vấn trực tiếp cho doanh nghiệp.
Ngoài ra,chính sách hỗ trợ cần được thiết kế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Cần thiết kế chính sách bảo vệ nhà sáng lập ở giai đoạn “tự làm”; chính sách thuế và cơ chế rõ ràng cho nhân sự doanh nghiệp ở giai đoạn “tổ chức”; và chuẩn hóa hệ thống ở giai đoạn vận hành.
Để hướng tới mục tiêu phát triển 5 triệu chủ thể kinh doanh, Việt Nam không chỉ cần cải thiện môi trường chính sách mà còn phải nâng cao năng lực quản trị và khả năng tiếp cận hỗ trợ của doanh nghiệp. Khi quy định minh bạch, thủ tục thuận lợi và các chương trình tư vấn đi vào thực chất, doanh nghiệp mới có thêm điều kiện tích lũy nội lực, duy trì hoạt động và mở rộng quy mô.
