Robot bùng nổ, doanh nghiệp Việt chọn đường nào để làm chủ công nghệ?
Robot đang mở rộng nhanh tại Việt Nam, nhưng thị trường tăng trưởng không đồng nghĩa doanh nghiệp trong nước đã làm chủ chuỗi giá trị. Để tiến sâu hơn, các doanh nghiệp đang phải lựa chọn: tự phát triển những công nghệ nào, phụ thuộc vào đâu và làm thế nào để giữ lại phần giá trị cao hơn trong mỗi sản phẩm?
Không cần làm tất cả mới là “làm chủ”
Theo World Robotics 2025 của Liên đoàn Robot Quốc tế (IFR), số robot công nghiệp được lắp đặt tại Việt Nam năm 2025 tăng khoảng 27%, trong bối cảnh chi phí nhân công trong nước tăng 8-10% mỗi năm và chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục dịch chuyển. Nhu cầu tự động hóa vì thế tăng nhanh tại các ngành dệt may, điện tử, logistics. Riêng hệ thống phân loại của Viettel Post hiện xử lý khoảng 4 triệu bưu kiện mỗi ngày.
Tuy vậy, thị trường robot tăng nhanh chưa đồng nghĩa Việt Nam đã làm chủ được năng lực sản xuất. Ba cụm linh kiện gồm hộp giảm tốc chính xác, động cơ servo và bộ điều khiển có thể chiếm khoảng 70% giá thành robot công nghiệp, trong khi doanh nghiệp Việt vẫn phụ thuộc lớn vào chuỗi cung ứng nước ngoài.
Trao đổi với phóng viên Báo Đại biểu Nhân dân, ông Nguyễn Xuân Tài - Tổng giám đốc Naiscorp Robotics cho biết, khái niệm “làm chủ” không có nghĩa phải tự sản xuất mọi thứ, thậm chí từ con ốc, con vít,... Theo ông Tài, doanh nghiệp cần xác định rõ muốn đứng ở đâu trong chuỗi giá trị, và chỉ tập trung vào một số công nghệ cốt lõi có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Với cách tiếp cận này, doanh nghiệp không đặt mục tiêu tự sản xuất toàn bộ linh kiện. Những phần thị trường đã làm tốt, có thể mua từ bên ngoài; và dành toàn bộ nguồn lực tập trung cho một số công nghệ quan trọng như: mạch xử lý tín hiệu, kiến trúc chip AI, quản lý năng lượng và thiết kế công nghiệp.

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu thăm và tìm hiểu sản phẩm robot dịch vụ của Naiscorp Robotics

Robot dịch vụ do Naiscorp Robotics phát triển được triển khai tại ngân hàng Agribank
Cũng theo ông Tài, phần cứng cơ khí, điện, điện tử chỉ chiếm một phần giá trị của robot. Để một robot có thể tự di chuyển, nhận biết môi trường và thực hiện công việc, phía sau còn có kiến trúc hệ thống, phần mềm, thuật toán, điều khiển, AI, hệ thống nhúng và nhiều lớp công nghệ khác.
"Chúng tôi xác định không cạnh tranh bằng giá với robot Trung Quốc. Lợi thế của robot Việt Nam khó nằm ở việc tạo ra sản phẩm rẻ hơn, mà ở khả năng phát triển công nghệ, tùy biến sản phẩm và giải quyết những bài toán cụ thể của khách hàng", ông Tài nêu rõ.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp Neo Robotics gần như không đặt mục tiêu tự sản xuất phần cứng lõi, mà tập trung làm chủ phần công nghệ giúp robot hoạt động hiệu quả trong thực tế. Ông Trần Anh Tuấn - đại diện doanh nghiệp cho biết, những linh kiện như cảm biến LiDAR, camera, máy tính và chip xử lý hiện vẫn phải nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc.
"Trung Quốc là công xưởng của thế giới, nên hướng đi của chúng tôi là đặt hàng phần cứng OEM/ODM từ Trung Quốc và dồn toàn lực vào phần mềm của người Việt. Cách này vừa tận dụng được phần cứng giá tốt, vừa phát huy đúng thế mạnh phần mềm của kỹ sư Việt Nam", ông Tuấn lý giải.
Thay vì tự sản xuất phần cứng lõi, doanh nghiệp tập trung vào phần mềm điều phối nhiều robot, định vị và dẫn đường SLAM, AI nhận diện hình ảnh, giọng nói tiếng Việt và nền tảng kết nối robot với các thiết bị khác. Cụ thể, một robot giao thuốc trong bệnh viện không chỉ cần tự tìm đường, mà còn phải kết nối được với thang máy, cửa tự động và hệ thống thông tin bệnh viện (HIS), dù hệ thống mỗi bệnh viện có thể khác nhau.
"So với các đối thủ nước ngoài, chúng tôi không đấu ở sân 'bán robot đại trà', mà thắng ở sân giải pháp nội địa hoá cao, 'đo ni đóng giày' cho khách Việt", đại diện Neo Robotics nói.

Robot giao thuốc trong bệnh viện do Neo Robotics phát triển
30 phút và hàng tháng trời: Vì sao R&D robot Việt chậm hơn?
Xác định được "mắt xích" cần làm chủ mới chỉ là bước đầu. Bài toán tiếp theo là doanh nghiệp Việt có đủ vốn, nhân lực và điều kiện để theo đuổi R&D đến cùng? Đây cũng là điểm tạo khoảng cách đáng kể giữa doanh nghiệp robot Việt Nam và các trung tâm sản xuất lớn trong khu vực.
CEO Naiscorp Nguyễn Xuân Tài dẫn chứng, một xưởng sản xuất robot tại Trung Quốc có thể tiếp cận nhiều nguồn lực trong bán kính khoảng 2 giờ, thậm chí có trường hợp chỉ 30 phút từ nhà máy. Trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam có thể phải chờ hàng tuần hoặc hàng tháng để nhận được linh kiện, vật liệu phục vụ nghiên cứu và sản xuất.
Khoảng cách này không chỉ đến từ việc thiếu nhà cung cấp linh kiện, mà còn nằm ở hệ sinh thái sản xuất hỗ trợ phía sau robot. Các ngành cơ khí, nhựa, in 3D, hoàn thiện sản phẩm trong nước còn khoảng cách đáng kể so với Trung Quốc.
"Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng gặp hạn chế khi tìm mua một số thiết bị, linh kiện công nghệ cao do các quy định kiểm soát xuất khẩu, có những thiết bị phải mất thêm thời gian để xác định cách khai báo", ông Tài nói rõ.

Dây chuyền gia công linh kiện cơ khí - một trong những khâu doanh nghiệp robot Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào chuỗi cung ứng nước ngoài
Từ thực tế này, Naiscorp Robotics kiến nghị thay đổi cách quản lý nhập khẩu đối với linh kiện, nguyên liệu phục vụ R&D. Thay vì doanh nghiệp phải giải trình, xin phép đối với từng loại hàng hóa chưa có trong danh mục, Naiscorp đề xuất áp dụng nguyên tắc những mặt hàng không thuộc danh mục cấm thì được phép nhập khẩu.
Với Neo Robotics, điểm phụ thuộc lớn nhất hiện nằm ở phần cứng. Phần lớn linh kiện lõi như chip xử lý, cảm biến, camera vẫn phải nhập khẩu do Việt Nam chưa có năng lực sản xuất đáp ứng yêu cầu. Điều này khiến doanh nghiệp phụ thuộc nhiều hơn vào nhà cung cấp về chi phí, chất lượng và tiến độ, đồng thời đối mặt nguy cơ đứt gãy nguồn cung khi thị trường hoặc đối tác có biến động.
Một vấn đề khác là chính các nhà cung cấp phần cứng có thể trở thành đối thủ cạnh tranh. Ông Tuấn cho rằng, doanh nghiệp vì vậy cần tính đến việc đa dạng hóa nguồn cung, tránh phụ thuộc vào một nhà cung cấp duy nhất, đồng thời từng bước nội địa hóa có chọn lọc một số bộ phận như kết cấu cơ khí, mạch tích hợp và pin.
Robot Việt vướng gì ngoài bài toán công nghệ?
Ngoài chuỗi cung ứng, 2 doanh nghiệp còn chỉ ra một nhóm rào cản nằm ngoài khả năng tự giải quyết của khu vực tư nhân: Chính sách ưu đãi thuế chưa đúng đối tượng; thiếu vốn kiên nhẫn cho nghiên cứu phần cứng; nhân lực chuyên sâu bị cạnh tranh gay gắt, và thị trường đầu ra - đặc biệt khối cơ quan nhà nước còn dè dặt với sản phẩm công nghệ nội địa.
Về thuế, CEO Nguyễn Xuân Tài cho rằng cần phân biệt giữa doanh nghiệp gia công phần mềm theo đơn đặt hàng và doanh nghiệp tự nghiên cứu, sở hữu công nghệ rồi cung cấp dưới dạng dịch vụ. Với nhóm thứ hai, giá trị được tích lũy trong chính công nghệ, dữ liệu và nền tảng do doanh nghiệp phát triển. Ông kiến nghị có chính sách ưu đãi dài hạn cho các doanh nghiệp này, đồng thời kỳ vọng các quỹ khoa học công nghệ được phân bổ đúng tới những đơn vị thực sự tạo ra công nghệ mới.
Về nhân lực, ông Tài cho rằng đào tạo kỹ sư phần mềm là chưa đủ, mà cần bổ sung nhân lực cho các ngành công nghiệp hỗ trợ như cơ khí, nhựa, in 3D - những "mắt xích" cần thiết để hình thành chuỗi cung ứng robot trong nước.

Kỹ sư của Naiscorp Robotics trong quá trình nghiên cứu, phát triển sản phẩm
Với Neo Robotics, bài toán vốn được đặt ra khác hẳn mô hình công nghệ thuần phần mềm: R&D robot cần vốn lớn, hoàn vốn chậm, rủi ro cao, trong khi nguồn vốn đầu tư trong nước chưa phù hợp với chu kỳ này. Đây là lý do doanh nghiệp đề xuất phát triển thêm các quỹ đầu tư mạo hiểm và ưu đãi cho doanh nghiệp khoa học công nghệ.
Ông Trần Anh Tuấn cũng cho biết kỹ sư robotics, AI, hệ thống nhúng "vừa thiếu vừa đắt", phải cạnh tranh với doanh nghiệp FDI và các công ty gia công phần mềm nước ngoài.
"Tôi kiến nghị cần sự phối hợp giữa trường đại học và doanh nghiệp để đào tạo chuyên sâu sát thực tế, đặt hàng đào tạo theo nhu cầu, và tạo môi trường nghiên cứu đủ tốt để giữ chân nhân tài", ông nói.

Đội ngũ kỹ sư Neo Robotics thử nghiệm kỹ năng của robot thang máy
Về thị trường đầu ra, Neo Robotics chỉ ra một nghịch lý: chính những khách hàng có thể hưởng lợi nhiều nhất từ lợi thế "chủ quyền dữ liệu" của giải pháp nội địa - khối y tế, cơ quan công lại là nhóm còn e ngại nhất khi lựa chọn sản phẩm trong nước.
Từ đó, doanh nghiệp kiến nghị chính sách "Make in Vietnam" cần đi vào thực chất trong mua sắm công, ưu tiên sản phẩm nội đạt chuẩn thay vì chỉ dừng ở khẩu hiệu, đồng thời sớm ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn và cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho robot dịch vụ - lĩnh vực hiện chưa có khung pháp lý riêng tại Việt Nam.
Chọn đúng khâu để làm chủ chuỗi giá trị robot
Chủ tịch sáng lập mạng lưới Vietnam Innovation Hub Chu Quang Thái
Từ thực tế của các doanh nghiệp trong ngành, trao đổi với phóng viên Báo Đại biểu Nhân dân, Chủ tịch sáng lập mạng lưới Vietnam Innovation Hub Chu Quang Thái cho rằng, để xác định chính xác Việt Nam đang đứng ở đâu trong chuỗi giá trị robot, cần bóc tách một robot thành các lớp giá trị cụ thể, thay vì nhìn nhận chung chung.
Ông Thái dẫn lại số liệu ngành, thị trường hộp giảm tốc chính xác toàn cầu hiện tập trung chủ yếu vào 2 doanh nghiệp Nhật Bản, nắm giữ khoảng 3/4 thị phần, kết quả của nhiều thập kỷ tích lũy kinh nghiệm luyện kim và gia công chính xác, hơn là vấn đề về vốn đầu tư. Đây là lớp công nghệ mà Việt Nam gần như chưa có năng lực cạnh tranh. Với robot di động (AMR) và robot dịch vụ, cấu trúc giá trị có sự khác biệt: cơ khí chiếm 35-40% giá thành, cụm pin và phần mềm quản lý pin thêm 10-15%, cảm biến và xử lý khoảng 10-15%.
Ông Thái đề xuất đo "làm chủ" bằng 3 tiêu chí thay vì tỷ lệ nội địa hóa. Thứ nhất là khả năng thay thế nhà cung cấp trong một khoảng thời gian chấp nhận được. Nếu có thể thay thế trong 3 tháng, có thể xem là tự chủ, còn mất 3 năm hoặc không thể thay thế, đó là điểm nghẽn chiến lược.
Thứ hai là khả năng sở hữu tài sản trí tuệ ở những lớp tạo ra giá trị cao và gần khách hàng. Thứ ba là quyền quyết định robot sẽ làm gì, phục vụ ai, điều ông Thái gọi là “ranh giới thật giữa một ngành công nghiệp và một xưởng gia công”.
Từ cách tiếp cận này, Chủ tịch Vietnam Innovation Hub cho rằng, mục tiêu làm chủ tối thiểu 65% công nghệ lõi vào năm 2027 và 80% vào năm 2030 là đúng hướng. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là phải xác định rõ những tỷ lệ này được tính như thế nào, dựa trên giá trị hay số lượng linh kiện, và cơ quan nào sẽ kiểm chứng.
Ông Thái đồng thời cảnh báo nguy cơ ngành robot đi vào “vết xe đổ” của ngành điện tử. Hai thập kỷ qua, Việt Nam đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi điện tử toàn cầu với sự hiện diện của Samsung tại Thái Nguyên, Intel tại TP. Hồ Chí Minh, Amkor tại Bắc Ninh. Tuy nhiên, phần lớn năng lực sản xuất vẫn thuộc khu vực FDI.
“Chúng ta sẽ lắp ráp được những cỗ máy ngày càng tinh vi mà giữ lại rất ít tài sản trí tuệ và không có quyền quyết định chiến lược. Tăng trưởng cao, giá trị giữ lại thấp. Đó chính là 'bẫy gia công' và ngành robot hoàn toàn có thể rơi vào lần thứ hai nếu Việt Nam không có chiến lược và đầu tư đủ mạnh", ông Thái nói.
Nhìn rộng hơn các rào cản đã nêu, ông Thái cho rằng nhiều điểm nghẽn về vốn, nhân lực và công nghiệp hỗ trợ hiện nay có cùng nguyên nhân: thiếu thị trường đầu ra đủ lớn và đủ chắc chắn. Doanh nghiệp FDI đã có nhà cung cấp toàn cầu và không có động cơ đổi, doanh nghiệp nội thì mua hàng Trung Quốc rẻ hơn, khu vực công thì đấu thầu theo giá thấp nhất.
Để giải quyết gốc rễ này, ông Chu Quang Thái kiến nghị Nhà nước ưu tiên kiến tạo thị trường thông qua cơ chế mua sắm công có cam kết nhiều năm, đồng thời đặt hàng theo những bài toán cụ thể thay vì đấu thầu từng gói theo giá thấp nhất.
"Giá trị lớn nhất mà robot mang lại cho Việt Nam có thể không phải là con robot. Nếu ngành robot trở thành cái cớ để nâng cấp toàn bộ nền tảng công nghiệp - đào tạo kỹ sư, phát triển bán dẫn, xây năng lực thiết kế và tích hợp hệ thống, hình thành tầng nhà cung cấp cỡ vừa, thì phần chúng ta thu được sẽ lớn hơn nhiều so với doanh số của bất kỳ dòng sản phẩm robot nào", Chủ tịch Vietnam Innovation Hub nêu rõ.
