Sacombank vượt mốc tài sản 1 triệu tỷ đồng, lợi nhuận giảm gần một nửa vì đâu?

Sacombank trở thành ngân hàng tư nhân thứ 5 có tổng tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, đằng sau quy mô ngày càng mở rộng là áp lực đáng kể về chất lượng tín dụng như nợ xấu vượt 51.300 tỷ đồng, nợ cần chú ý tăng gần 3,8 lần... Trong 9 tháng đầu năm 2026, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng gần 6 lần đã kéo lợi nhuận trước thuế giảm 46,4%.

 Sacombank trở thành ngân hàng tư nhân thứ 5 có tổng tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng

Sacombank trở thành ngân hàng tư nhân thứ 5 có tổng tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng

Chi phí dự phòng rủi ro gây sức ép lên lợi nhuận

Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý III/2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã chứng khoán: STB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 1.757 tỷ đồng, giảm 52% so với mức 3.657 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt 1.347 tỷ đồng, giảm 53,6%.

Điểm đáng chú ý là lợi nhuận suy giảm không đồng nghĩa hoạt động kinh doanh của ngân hàng đồng loạt đi xuống. Trong 9 tháng đầu năm, tổng thu nhập hoạt động của Sacombank đạt khoảng 28.195 tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ. Chi phí hoạt động giảm 19,3%, xuống còn 9.053 tỷ đồng. Nhờ đó, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đạt 18.741 tỷ đồng, tăng 42,6%.

Tuy nhiên, phần lợi nhuận tăng thêm trước dự phòng không chuyển hóa tương ứng thành lợi nhuận cuối cùng. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong 9 tháng lên tới 12.848 tỷ đồng, cao gấp gần 6 lần mức 2.152 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Sau khi trừ khoản chi phí này, lợi nhuận trước thuế còn 5.893 tỷ đồng, giảm 46,4%; lợi nhuận sau thuế đạt 4.278 tỷ đồng, giảm khoảng 50,8%.

Diễn biến trong quý III thể hiện rõ hơn sức ép này. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng từ 1.044 tỷ đồng lên 5.729 tỷ đồng, tương đương khoảng 5,5 lần cùng kỳ. Trong khi đó, lợi nhuận thuần trước dự phòng đạt 7.486 tỷ đồng, tăng 59,3%.

Như vậy, chi phí dự phòng đã trở thành yếu tố chi phối kết quả lợi nhuận của Sacombank. Ngân hàng tạo ra lợi nhuận đáng kể từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng, nhưng phải dành một phần lớn nguồn thu để ghi nhận rủi ro tín dụng.

Việc tăng trích lập có thể gây sức ép lên lợi nhuận trong ngắn hạn, song cũng có ý nghĩa trong việc phản ánh rủi ro và củng cố khả năng chống chịu trước những khoản vay suy giảm chất lượng. Vấn đề cần theo dõi là mức trích lập hiện tại có tương xứng với quy mô rủi ro hay không và áp lực này sẽ kéo dài trong bao lâu.

Bên cạnh dự phòng, nguồn thu từ hoạt động tín dụng cũng đang chịu sức ép. Trong quý III/2026, thu nhập lãi thuần của Sacombank đạt 5.228 tỷ đồng, giảm 33,6% so với cùng kỳ năm trước.

Cụ thể, thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự tăng từ 15.947 tỷ đồng lên 18.535 tỷ đồng, tương đương khoảng 16,2%. Tuy nhiên, chi phí lãi và các chi phí tương tự tăng nhanh hơn, từ 8.073 tỷ đồng lên 13.307 tỷ đồng, tương đương gần 64,8%. Chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi vì thế thu hẹp đáng kể.

Diễn biến này cho thấy áp lực đối với nguồn thu từ hoạt động tín dụng và các tài sản sinh lãi. Dù thu nhập lãi tăng, ngân hàng không giữ lại được phần chênh lệch tương ứng khi chi phí lãi tăng nhanh hơn.

Tại ngày 30/9/2026, tiền gửi khách hàng của Sacombank đạt 775.422 tỷ đồng, tăng khoảng 25,4% so với đầu năm, trong khi dư nợ cho vay khách hàng đạt 682.457 tỷ đồng, tăng 12,5%.

Tiền gửi tăng nhanh hơn cho vay có thể giúp ngân hàng củng cố nguồn vốn và khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Tuy nhiên, tốc độ huy động vốn cao không tự động đồng nghĩa hiệu quả kinh doanh được cải thiện. Nếu chi phí huy động tăng nhanh, chênh lệch giữa lãi thu được từ tài sản sinh lãi và lãi phải trả cho nguồn vốn có thể bị thu hẹp.

Để đánh giá đầy đủ nguyên nhân khiến thu nhập lãi thuần suy giảm, cần theo dõi thêm cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn, chi phí huy động bình quân, cơ cấu tài sản sinh lãi và diễn biến biên lãi ròng (NIM). Số liệu hiện có cho thấy nguồn thu lãi thuần giảm mạnh, nhưng chưa đủ để xác định toàn bộ mức suy giảm đến từ chi phí huy động hay các yếu tố khác.

Ở chiều ngược lại, hoạt động ngoài lãi ghi nhận kết quả tích cực. Trong quý III, thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ đạt 4.255 tỷ đồng, tăng hơn 6 lần so với mức 673 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối đạt 711 tỷ đồng, tăng gần 3,7 lần; lãi thuần từ hoạt động khác đạt 94 tỷ đồng, tăng hơn 82%. Hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư cũng chuyển từ lỗ 155 tỷ đồng sang lãi gần 9 tỷ đồng.

Tính chung 9 tháng, thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ đạt 8.206 tỷ đồng, gấp khoảng 3,5 lần cùng kỳ. Lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối đạt 1.400 tỷ đồng, tăng 92,4%; lãi thuần từ hoạt động khác đạt 642 tỷ đồng, đảo chiều so với khoản lỗ gần 25 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.

Những kết quả này góp phần duy trì tăng trưởng tổng thu nhập hoạt động. Tuy nhiên, mức tăng mạnh của một số khoản thu cần được đánh giá cùng cơ cấu và tính chất của nguồn thu để xác định khả năng duy trì trong các kỳ tiếp theo. Trong bối cảnh thu nhập lãi thuần suy giảm và chi phí dự phòng tăng cao, tăng trưởng thu nhập ngoài lãi vẫn chưa đủ bù đắp sức ép lên lợi nhuận.

Áp lực từ nợ xấu tăng mạnh

Áp lực lớn nhất đối với Sacombank hiện nằm ở chất lượng tài sản. Tại ngày 30/9/2026, tổng dư nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 đạt 51.367 tỷ đồng. Trong đó, nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) đạt 19.359 tỷ đồng; nợ nghi ngờ (nhóm 4) đạt 9.441 tỷ đồng; nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) đạt 22.567 tỷ đồng.

Đáng chú ý, nợ nhóm 5 chiếm hơn 22.500 tỷ đồng trong tổng nợ xấu. Đây là nhóm nợ có mức độ rủi ro cao nhất trong phân loại nợ, thường đòi hỏi ngân hàng phải tăng cường các biện pháp thu hồi, xử lý tài sản bảo đảm và sử dụng dự phòng theo quy định.

Tuy nhiên, số dư nợ xấu chưa đủ để xác định mức tổn thất cuối cùng. Khả năng thu hồi còn phụ thuộc vào giá trị và tính pháp lý của tài sản bảo đảm, khả năng trả nợ của khách hàng, tiến độ xử lý nợ cũng như mức dự phòng đã trích lập cho từng khoản vay.

Một chỉ tiêu khác cần được quan tâm là nợ cần chú ý (nhóm 2). Tại cuối quý III, khoản mục này tăng lên 17.710 tỷ đồng, so với 4.658 tỷ đồng đầu năm, tương đương gần 3,8 lần.

Nợ nhóm 2 chưa được tính vào nợ xấu, nhưng có ý nghĩa cảnh báo vì bao gồm những khoản vay cần được theo dõi sát hơn. Nếu dòng tiền của khách hàng suy giảm hoặc khả năng trả nợ tiếp tục xấu đi, một phần dư nợ nhóm này có thể chuyển sang các nhóm nợ rủi ro cao hơn.

Không thể mặc định toàn bộ nợ nhóm 2 sẽ trở thành nợ xấu. Dù vậy, mức tăng nhanh của khoản mục này đặt ra yêu cầu phải theo dõi sát chất lượng tín dụng trong những quý tiếp theo, nhất là khi dư nợ cho vay khách hàng vẫn tăng 12,5% so với đầu năm.

Sự gia tăng của nợ xấu và nợ cần chú ý giúp lý giải phần nào vì sao chi phí dự phòng của Sacombank tăng mạnh. Tuy nhiên, để xác định chính xác phần dự phòng tăng thêm đến từ các khoản nợ mới phát sinh, việc đánh giá lại khả năng thu hồi của các khoản nợ hiện hữu hay những yếu tố khác, cần có thuyết minh chi tiết hơn trong báo cáo tài chính.

Về bản chất, dự phòng rủi ro tín dụng là khoản chi phí được ghi nhận để phản ánh rủi ro tổn thất từ hoạt động cho vay. Khi rủi ro tín dụng tăng, ngân hàng có thể phải dành nhiều nguồn lực hơn để bù đắp những khoản tổn thất dự kiến. Điều này gây sức ép lên lợi nhuận hiện tại, nhưng có thể giúp ngân hàng chủ động hơn trước các khoản vay suy giảm chất lượng nếu việc trích lập được thực hiện đầy đủ và phù hợp.

Vì vậy, vấn đề không chỉ nằm ở số tiền Sacombank đã trích lập, mà còn ở mức độ bao phủ rủi ro. Để đánh giá đầy đủ, cần xem xét tỷ lệ bao phủ nợ xấu, số dư dự phòng cho vay khách hàng, diễn biến nợ xấu sau xử lý bằng dự phòng và kết quả thu hồi nợ. Khi chưa có các chỉ tiêu này, chưa thể kết luận bộ đệm dự phòng đã đủ mạnh hay mức độ rủi ro còn lại là bao nhiêu.

Phép thử chất lượng tăng trưởng khi tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng

Tại ngày 30/9/2026, tổng tài sản hợp nhất của Sacombank đạt khoảng 1,057 triệu tỷ đồng, tăng 15,3% so với đầu năm. Với quy mô này, ngân hàng trở thành nhà băng tư nhân thứ 5 vượt mốc tài sản 1 triệu tỷ đồng, sau VPBank, Techcombank, ACB và HDBank.

Quy mô tài sản mở rộng phản ánh sự gia tăng trong hoạt động kinh doanh, nhưng chưa đủ để đánh giá chất lượng tăng trưởng hay hiệu quả sử dụng vốn. Với một ngân hàng, điều quan trọng không chỉ là tài sản tăng bao nhiêu, mà còn là chất lượng các khoản cho vay, khả năng thu hồi vốn và lợi nhuận tạo ra từ nguồn vốn huy động.

Tại Sacombank, tiền gửi khách hàng tăng 25,4%, nhanh hơn mức tăng 12,5% của dư nợ cho vay. Trong khi đó, nợ xấu vượt 51.300 tỷ đồng và nợ nhóm 2 tăng gần 3,8 lần so với đầu năm. Những diễn biến này cho thấy việc mở rộng quy mô đang đi cùng yêu cầu kiểm soát rủi ro tín dụng chặt chẽ hơn.

Đối với cổ đông, câu hỏi quan trọng là khi nào phần lợi nhuận trước dự phòng có thể chuyển hóa tốt hơn thành lợi nhuận cuối cùng. Nếu chi phí dự phòng tiếp tục ở mức cao, lợi nhuận có thể chịu sức ép ngay cả khi thu nhập hoạt động cải thiện. Ngược lại, nếu chất lượng tín dụng ổn định, nợ xấu được xử lý và nhu cầu trích lập giảm, hiệu quả kinh doanh có thể được cải thiện.

Tuy nhiên, chưa thể khẳng định lợi nhuận Sacombank sẽ phục hồi trong ngắn hạn chỉ dựa trên mức tăng của thu nhập ngoài lãi. Triển vọng này còn phụ thuộc vào khả năng duy trì nguồn thu dịch vụ, kiểm soát chi phí vốn, diễn biến chất lượng tín dụng và tiến độ xử lý nợ xấu.

Với người gửi tiền, quy mô tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng cũng không phải chỉ tiêu duy nhất để đánh giá sức khỏe ngân hàng. Khả năng thanh khoản, cơ cấu nguồn vốn, chất lượng tài sản và mức độ an toàn vốn đều là những yếu tố cần xem xét. Các số liệu về lợi nhuận và nợ xấu trong bài chưa đủ để đưa ra kết luận toàn diện về những khía cạnh này.

Trong các quý tới, diễn biến nợ xấu và nợ nhóm 2, tỷ lệ bao phủ nợ xấu bằng dự phòng, cùng khả năng phục hồi thu nhập lãi thuần sẽ là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức khỏe tài chính của Sacombank. Đây cũng là phép thử đối với khả năng chuyển quy mô tài sản ngày càng lớn thành tăng trưởng lợi nhuận bền vững.

Thùy Linh

Nguồn Phụ Nữ VN: https://phunuvietnam.vn/sacombank-vuot-moc-tai-san-1-trieu-ty-dong-loi-nhuan-giam-gan-mot-nua-vi-dau-238261027170125524.htm