Sầu riêng hướng tới mốc xuất khẩu 4 tỷ USD, mở rộng thị trường tỷ dân

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai hàng loạt giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn về mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, kiểm nghiệm chất lượng, chế biến và logistics, nhằm đưa xuất khẩu sầu riêng năm 2026 trở lại mốc 3,85 tỷ USD...

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, trong 7 tháng đầu năm, đặc biệt trong tháng 8, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản có sự tăng trưởng đột biến, ước đạt khoảng 49,3 tỷ USD. Kết quả này được đánh giá là nỗ lực lớn của toàn ngành trong việc thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

 Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp thông tin về việc tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu sầu riêng - Ảnh: chinhphu.vn/QP

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp thông tin về việc tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu sầu riêng - Ảnh: chinhphu.vn/QP

Trong nhóm nông sản chủ lực, sầu riêng tiếp tục giữ vị trí quan trọng. Việt Nam hiện có khoảng 200.000 ha sầu riêng, sản lượng khoảng 2,08 triệu tấn. Nếu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng mới đạt khoảng 177 triệu USD thì đến năm 2025 đã tăng lên 3,85 tỷ USD.

Theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sầu riêng hiện đóng góp khoảng 40% giá trị xuất khẩu của ngành trồng trọt. Riêng 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng ước đạt khoảng 1,95 tỷ USD, trong đó thị trường Trung Quốc đạt khoảng 1,85 tỷ USD, chiếm khoảng 95% tổng kim ngạch.

Gỡ điểm nghẽn từ mã vùng trồng đến truy xuất nguồn gốc

Trước vai trò ngày càng lớn của sầu riêng trong xuất khẩu nông sản, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã triển khai nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn mà doanh nghiệp và người sản xuất đang gặp phải.

Bộ đã tổ chức các đoàn công tác trực tiếp làm việc tại những vùng trồng sầu riêng trọng điểm ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ để nắm bắt, xử lý các vướng mắc trong sản xuất, cấp mã vùng trồng và xuất khẩu.

Một trong những thay đổi đáng chú ý là việc triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc trên nền tảng chuyển đổi số của Bộ từ ngày 1/7. Theo đó, người tiêu dùng và khách hàng trong nước, quốc tế có thể tiếp cận thông tin về quá trình sản xuất, chăm sóc, sử dụng phân bón, tưới tiêu, thu hoạch và đóng gói sản phẩm.

Việc số hóa dữ liệu được kỳ vọng góp phần nâng cao tính minh bạch của chuỗi sản xuất, qua đó củng cố niềm tin của các thị trường nhập khẩu. Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, các tham tán thương mại của Mỹ và Trung Quốc cũng đánh giá cao việc Việt Nam lần đầu triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc này.

Cùng với đó, Bộ đã triển khai các giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong cấp mã số vùng trồng. Bộ cũng đã trình Chính phủ Nghị quyết 36 nhằm tháo gỡ khó khăn trong việc cấp mã số vùng trồng đối với các loại cây trồng.

Đáng chú ý, việc phân cấp, ủy quyền được đẩy mạnh, trong đó giao địa phương thực hiện cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Việc này được kỳ vọng rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp.

Đặc biệt, đối với những vùng sản xuất xen canh vốn gặp nhiều khó khăn trong quá trình cấp mã số, cơ chế mới cũng tạo điều kiện để địa phương chủ động xử lý.

Trong chuyến làm việc tại Trung Quốc ngày 14/8, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã cấp thêm 567 mã vùng trồng sầu riêng của Việt Nam, nâng tổng số mã vùng trồng được phê duyệt lên hơn 1.800 mã. Hiện Việt Nam có khoảng 1.599 mã vùng trồng sầu riêng và 281 cơ sở đóng gói.

Không thể chỉ trông vào một thị trường

Mặc dù đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, ngành sầu riêng Việt Nam vẫn tồn tại không ít điểm nghẽn. Diện tích tăng nhanh nhưng tại một số địa phương chưa gắn chặt với tổ chức chuỗi giá trị. Việc mở rộng diện tích có nơi còn mang tính tự phát, chưa tính đầy đủ đến điều kiện đất đai, nguồn nước và khả năng kết nối với hệ thống logistics, chế biến và xuất khẩu.

 Thị trường xuất khẩu sầu riêng vẫn còn rộng cửa cho Việt Nam

Thị trường xuất khẩu sầu riêng vẫn còn rộng cửa cho Việt Nam

Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng nâng cao yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Đây là những tiêu chuẩn mà ngành sầu riêng Việt Nam phải đáp ứng tốt hơn nếu muốn duy trì thị phần và mở rộng sang các thị trường mới.

Cạnh tranh quốc tế cũng ngày càng gay gắt khi Malaysia, Thái Lan và một số quốc gia trong khu vực đang đẩy mạnh xuất khẩu sầu riêng vào Trung Quốc.

Trước thực tế này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định đa dạng hóa thị trường là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Việt Nam sẽ tiếp tục đàm phán, mở rộng thị trường tại Ấn Độ, Australia, New Zealand và các thị trường tiềm năng khác.

Đáng chú ý, trong tháng 7, Ấn Độ đã đồng ý cho Việt Nam xuất khẩu sầu riêng. Với quy mô dân số hơn 1,4 tỷ người và nhu cầu tiêu dùng lớn, đây được kỳ vọng sẽ mở thêm dư địa tăng trưởng cho sầu riêng Việt Nam, qua đó giảm sự phụ thuộc vào một thị trường xuất khẩu duy nhất.

Bên cạnh xuất khẩu quả tươi, ngành cũng định hướng tăng xuất khẩu sầu riêng đông lạnh, các sản phẩm chế biến và những sản phẩm phù hợp với nhu cầu từng thị trường.

Tăng chế biến, giảm thất thoát sau thu hoạch

Một nhiệm vụ quan trọng khác được Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt ra là tổ chức lại sản xuất, hình thành các vùng nguyên liệu bền vững và phát triển chuỗi giá trị sầu riêng.

Theo đó, cần rà soát, bố trí vùng sản xuất phù hợp với điều kiện đất đai, nguồn nước và khí hậu; đồng thời phát triển hạ tầng vùng nguyên liệu gắn với sơ chế, chế biến, bảo quản, logistics và tiêu thụ.

Bộ cũng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trở lại vùng nguyên liệu, tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, từng bước xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam.

Một trong những hạn chế hiện nay là tỷ lệ hao hụt trong quá trình từ sản xuất, thu hoạch, lưu thông đến khi sản phẩm tới tay người tiêu dùng còn cao. Nguyên nhân một phần do hệ thống nhà máy sơ chế, chế biến và bảo quản chưa đáp ứng yêu cầu.

Do đó, thời gian tới, ngành sẽ khuyến khích đầu tư thêm các cơ sở sơ chế, chế biến, kho lạnh và hệ thống bảo quản ngay tại vùng sản xuất tập trung. Cùng với đó là nâng cấp hạ tầng giao thông, thủy lợi và logistics để giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Song song với phát triển hạ tầng, việc chuẩn hóa chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc tiếp tục được xác định là yêu cầu bắt buộc.

Mở rộng hệ thống kiểm nghiệm

Một điểm nghẽn khác trong xuất khẩu sầu riêng là năng lực kiểm nghiệm, kiểm soát các chỉ tiêu chất lượng theo yêu cầu của từng thị trường.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang định hướng mở rộng, củng cố hệ thống phòng thí nghiệm; đẩy mạnh xã hội hóa các cơ sở đủ điều kiện, đầu tư trang thiết bị và nâng cao năng lực kiểm nghiệm đối với các chỉ tiêu như cadimi, vàng ô và những tiêu chí mà thị trường nhập khẩu yêu cầu.

Việc hoàn thiện phương pháp kiểm nghiệm cũng được đặt ra nhằm bảo đảm kết quả xét nghiệm đáp ứng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tại nước nhập khẩu.

Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, sau quá trình đàm phán, phía Trung Quốc đã đồng ý cho Việt Nam có 52 phòng kiểm nghiệm sản phẩm đáp ứng các yêu cầu phục vụ xuất khẩu.

Trong thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng phát triển thêm các phòng kiểm nghiệm đủ năng lực, qua đó tăng khả năng kiểm soát chất lượng ngay từ trong nước.

Với việc đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn về mã vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, kiểm nghiệm, chế biến và thị trường, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu đưa xuất khẩu sầu riêng năm 2026 ít nhất đạt mức 3,85 tỷ USD của năm 2025, đồng thời phấn đấu hướng tới mốc khoảng 4 tỷ USD.

Đây cũng được xem là bước chuyển quan trọng để ngành sầu riêng từ tăng trưởng nhanh về diện tích và sản lượng sang phát triển theo hướng bền vững, minh bạch, có chuỗi giá trị và giảm phụ thuộc vào một thị trường xuất khẩu.

Xuân Hoà

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/sau-rieng-huong-toi-moc-xuat-khau-4-ty-usd-mo-rong-thi-truong-ty-dan-118239.html