Số hóa ký ức

VHXQ - Tại đình làng, chùa chiền, nhà thờ tộc, đền miếu và trong nhiều gia đình ở xứ quảng, một kho tàng Hán - Nôm vẫn được lưu giữ với sắc phong, văn bia, gia phả, địa bạ, hương ước, khế ước, văn tế, hoành phi, câu đối, thư tịch cổ…

Dập văn bia nhằm lưu giữ, số hóa và phát huy giá trị di sản Hán Nôm. Ảnh: HỒNG VIỆT

Dập văn bia nhằm lưu giữ, số hóa và phát huy giá trị di sản Hán Nôm. Ảnh: HỒNG VIỆT

Số hóa di sản Hán Nôm

Kho tàng Hán - Nôm không chỉ ghi dấu tên người, tên đất, niên đại, sự kiện, mà còn lưu giữ tín ngưỡng, phong tục, đạo lý và đời sống cộng đồng của người Quảng qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, hiện các tư liệu này còn phân bố tản mát ở nhiều nơi mà chưa được điều tra, thống kê đầy đủ. Vì vậy, gìn giữ di sản không chỉ là bảo vệ những hiện vật hiện hữu, mà còn phải đi cùng khảo sát, phiên âm, dịch nghĩa, số hóa và nghiên cứu. Gìn giữ những dòng chữ của tiền nhân cũng là giữ lại những lớp ký ức làm nên diện mạo văn hóa xứ Quảng.

Mỗi loại hình tư liệu đều đối diện với những nguy cơ riêng: giấy có thể ẩm mốc, mối mọt; gỗ, đá chịu sự bào mòn của thời gian; trong khi nội dung và bối cảnh của tư liệu cũng có thể mai một, thất lạc theo những lần tu sửa, di chuyển hoặc chuyển giao quản lý.

Trong bối cảnh đó, số hóa trở thành một phương thức bảo tồn chủ động. Bản số không thay thế bản gốc, nhưng giúp hạn chế việc tiếp xúc trực tiếp với hiện vật quý, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận. Nếu hiện vật hư hỏng hoặc thất lạc, hình thức, nội dung và những thông tin nhận diện cơ bản vẫn còn được lưu giữ.

Với tài liệu trên giấy, việc chụp hoặc quét cần bảo đảm độ phân giải cao, màu sắc trung thực, chữ viết rõ nét nhưng không gây tổn hại đến hiện vật. Trước khi chụp từng trang, nên ghi hình toàn thể tài liệu, từ bìa, dấu triện đến những chỗ rách, phần sửa chữa hay các dấu vết đặc biệt. Tệp gốc chất lượng cao được dùng cho lưu trữ lâu dài; bản nhẹ hơn phục vụ tra cứu, chia sẻ. Mỗi hồ sơ cũng nên có ít nhất hai bản sao, lưu giữ ở hai nơi khác nhau để hạn chế nguy cơ mất dữ liệu.

Với văn bia, chữ khắc trên vách đá hoặc những văn tự đã phai mờ, ảnh chụp dưới nhiều góc sáng có thể giúp nhận rõ bề mặt và từng nét khắc. In rập vẫn là phương pháp hữu ích để làm nổi những chi tiết khó quan sát bằng mắt thường, song cần được thực hiện bởi người có chuyên môn. Với những bia đá đã phong hóa, nứt vỡ, không nên tiến hành in rập để tránh làm tổn thương thêm hiện vật.

Ảnh chụp, bản rập và bản đọc cần được lưu trong cùng một hồ sơ để thuận tiện đối chiếu. Khi đó, số hóa không chỉ là lưu giữ hình ảnh của một hiện vật, mà còn giúp bảo tồn nội dung, nhận diện và những lớp ký ức gắn với hiện vật ấy, để tiếng nói của tiền nhân không bị khuất lấp theo thời gian.

Hoành phi, liễn đối trong các di tích là những “trang sách” đặc biệt, lưu giữ dấu ấn Hán Nôm của xứ Quảng. Ảnh: VHA

Hoành phi, liễn đối trong các di tích là những “trang sách” đặc biệt, lưu giữ dấu ấn Hán Nôm của xứ Quảng. Ảnh: VHA

Xây dựng kho dữ liệu Hán Nôm

Số hóa không đơn thuần là chụp thật nhiều ảnh rồi lưu vào máy tính. Nếu thiếu thông tin mô tả, hàng nghìn tệp ảnh sẽ nhanh chóng trở thành một “kho kín”, khó tìm kiếm và khó sử dụng. Mỗi văn bản cần có mã số riêng, kèm theo tên gọi, loại hình, nơi lưu giữ, chủ sở hữu hoặc đơn vị quản lý, niên đại, kích thước, chất liệu và tình trạng bảo quản. Hồ sơ cũng phải ghi ngày thực hiện, người thực hiện, ảnh gốc, bản phiên âm, phần dịch nghĩa cùng chú thích về nhân danh, địa danh, điển tích, chức tước hoặc sự kiện liên quan. Những chữ đã mất nét hay cách đọc còn nghi vấn phải được đánh dấu rõ, tránh biến sự phỏng đoán thành kết luận.

Kinh nghiệm từ một số dự án cho thấy hiệu quả của số hóa nằm ở sự kết hợp giữa hình ảnh văn bản và hệ thống tra cứu. Thư viện số Hán - Nôm do Thư viện Quốc gia Việt Nam phối hợp với Quỹ Bảo tồn di sản chữ Nôm xây dựng đã đưa nhiều sưu tập lên mạng, cho phép tìm theo thư mục và xem ảnh văn bản. Tại Trung Quốc, Thư viện Quốc gia phát triển nền tảng cổ tịch, tích hợp tài nguyên số với công cụ tìm kiếm. Những mô hình này gợi ra một nguyên tắc: tài nguyên phải được tổ chức theo chuẩn chung, có khả năng liên kết và từng bước mở rộng quyền tiếp cận, thay vì nằm rời rạc trong máy tính của từng cá nhân hoặc đơn vị.

Từ kinh nghiệm ấy, kho dữ liệu Hán - Nôm xứ Quảng có thể được xây dựng theo nguồn lực địa phương. Bước đầu là khảo sát theo địa bàn, lập danh mục và ưu tiên những văn bản quý hiếm, có nguy cơ hư hại cao. Nhóm thực hiện nên có sự tham gia của cơ quan văn hóa, nhà nghiên cứu Hán Nôm, cán bộ công nghệ và đại diện cộng đồng đang nắm giữ di sản. Chủ sở hữu phải được thông tin rõ về mục đích sử dụng, quyền tiếp cận và cách ghi nguồn. Với gia phả hoặc tài liệu riêng của dòng họ, phạm vi công bố phải được thỏa thuận trước khi đưa lên mạng.

Về lâu dài, cơ sở dữ liệu có thể cho phép tra cứu theo địa danh, niên đại, loại hình, nhân vật và di tích. Từ một tấm bia, người đọc có thể lần theo câu chuyện của ngôi làng, dòng họ hoặc sự kiện liên quan; từ một sắc phong có thể nhận ra mạng lưới thờ tự trong vùng. Kho tư liệu sẽ hỗ trợ nghiên cứu lịch sử địa phương, tu bổ di tích, trưng bày, giáo dục di sản và du lịch văn hóa.

“Số hóa ký ức” là công việc lâu dài, đòi hỏi quy trình khoa học, nhân lực am hiểu và sự đồng thuận của cộng đồng. Mỗi văn bản được ghi nhận đúng, đọc đúng, lưu giữ an toàn sẽ góp thêm một mảnh ghép vào lịch sử xứ Quảng. Khi kho dữ liệu thành hình, những dòng chữ của tiền nhân sẽ tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay bằng một hình thức mới.

NGUYỄN THÁI HÒA

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/so-hoa-ky-uc-3354690.html