Sứ mệnh kiến tạo tri thức của đại học

Đại học không chỉ có trách nhiệm tạo ra tri thức mà còn phải góp phần giải quyết những vấn đề của thực tiễn.

Sinh viên Trường Đại học Thăng Long. Ảnh: NTCC.

Sinh viên Trường Đại học Thăng Long. Ảnh: NTCC.

Một công trình khoa học có thể được nghiệm thu, một đề tài có thể hoàn thành đúng tiến độ, nhưng giá trị thực sự của những kết quả ấy đến đâu nếu không được tiếp tục phát triển, ứng dụng hoặc chuyển giao?

Câu hỏi này đặt ra yêu cầu nhìn nhận lại hiệu quả nghiên cứu trong các trường đại học, thay vì chỉ quan tâm đến số lượng đề tài hay sản phẩm được ghi nhận.

Trong nền kinh tế tri thức, năng lực cạnh tranh quốc gia ngày càng phụ thuộc vào khả năng sáng tạo, phát triển công nghệ và chuyển hóa tri thức thành giá trị. Vì vậy, đại học không thể chỉ dừng ở chức năng đào tạo, truyền thụ kiến thức mà phải tham gia giải quyết những bài toán của sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng không thể được thu hẹp chỉ bằng những lời kêu gọi tăng cường hợp tác. Một kết quả nghiên cứu muốn đi vào thực tiễn cần có nguồn lực, cơ chế tiếp nhận và sự đồng hành của các bên liên quan.

Điều đó không có nghĩa mọi nghiên cứu đều phải tạo ra sản phẩm thương mại ngay lập tức. Nghiên cứu cơ bản có thể cần nhiều năm để phát huy giá trị; những thử nghiệm chưa thành công vẫn có thể cung cấp tri thức quan trọng. Vấn đề là phải phân biệt rủi ro vốn có của khoa học với sự lãng phí nguồn lực do lựa chọn nhiệm vụ thiếu căn cứ, tổ chức thực hiện kém hiệu quả hoặc bỏ ngỏ con đường ứng dụng kết quả.

Tinh thần thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị càng đòi hỏi giáo dục đại học đổi mới cách tiếp cận, không chỉ tạo ra tri thức mà còn phải nâng cao khả năng chuyển hóa tri thức thành giá trị.

Muốn nghiên cứu tạo ra giá trị, trước hết, các trường đại học cần quyền tự chủ thực chất. Nhà trường khó phát huy năng lực sáng tạo nếu những quyết định về nhân lực, tài chính, hợp tác và tổ chức nghiên cứu vẫn bị chi phối bởi cách quản lý nặng tính hành chính.

Tự chủ cho phép các trường lựa chọn hướng nghiên cứu phù hợp với thế mạnh, tập trung nguồn lực và chủ động tìm kiếm đối tác. Nhưng tự chủ không đồng nghĩa với việc sử dụng nguồn lực mà thiếu trách nhiệm. Quyền quyết định càng lớn, yêu cầu giải trình về chất lượng nghiên cứu, hiệu quả đầu tư và đóng góp cho xã hội càng phải rõ ràng.

Bởi vậy, cần đổi mới cách đánh giá hoạt động khoa học. Số lượng đề tài hoàn thành, bài báo công bố hay kinh phí giải ngân không thể là những thước đo duy nhất. Cần xem xét chất lượng tri thức, khả năng giải quyết vấn đề và tác động đối với đào tạo, sản xuất, đời sống.

Đánh giá thực chất cũng phải đi cùng việc chấp nhận rủi ro hợp lý. Nếu mọi nghiên cứu đều bị yêu cầu tạo ra lợi ích kinh tế tức thời, những hướng nghiên cứu nền tảng có thể bị xem nhẹ. Ngược lại, nếu thiếu giám sát và tiêu chí rõ ràng, nguồn lực dễ bị phân tán vào những nhiệm vụ ít tạo ra chuyển biến.

Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, đầu tư dàn trải có thể khiến nhiều nhóm nghiên cứu không đủ điều kiện phát triển đến cùng. Vì vậy, cần ưu tiên những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược, dựa trên năng lực thực tế và nhu cầu phát triển; đồng thời bảo đảm nguồn lực cho nghiên cứu cơ bản, tránh chỉ chú trọng những kết quả có thể thu lợi trước mắt.

Cùng với đó, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình nghiên cứu, từ xác định nhu cầu đến thử nghiệm, hoàn thiện và tiếp nhận sản phẩm.

Suy cho cùng, đại học mạnh không chỉ được đánh giá bằng quy mô hay danh tiếng, mà còn bằng năng lực tạo ra tri thức và đóng góp cho xã hội. Khi quyền tự chủ đi cùng trách nhiệm giải trình, đầu tư gắn với hiệu quả và nghiên cứu kết nối với thực tiễn, tri thức mới có thể vượt khỏi khuôn khổ giảng đường, phòng thí nghiệm để trở thành nguồn lực phát triển đất nước.

Minh Phong

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/su-menh-kien-tao-tri-thuc-cua-dai-hoc-post796557.html