Sức khỏe học đường phải là một phần của giáo dục

Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035 đã xác lập mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể. Tuy nhiên, để chính sách đi vào thực chất, cần tăng cường phối hợp liên ngành, huy động nguồn lực xã hội minh bạch và có thể đo đếm hiệu quả, để học sinh phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần.

Sức khỏe học đường phải là một phần của giáo dục

Các đại biểu tại phiên thảo luận. (Ảnh: PV) Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035 đã xác lập mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể. Tuy nhiên, để chính sách đi vào thực chất, cần tăng cường phối hợp liên ngành, huy động nguồn lực xã hội minh bạch và có thể đo đếm hiệu quả, để học sinh phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần.

Thứ Ba 11/08/2026 16:49 (GMT+7)

Ngày 11/8, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) phối hợp với Báo Giáo dục và Thời đại tổ chức Hội thảo “Đồng hành, kiến tạo tương lai: Vì một Việt Nam khỏe mạnh”. Hội thảo có sự tham dự của đại diện Bộ GD&ĐT, các sở GD&ĐT, chuyên gia dinh dưỡng, y tế, giáo dục, tổ chức quốc tế và doanh nghiệp.

Tại Hội thảo, ông Hoàng Đức Minh - Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên (Bộ GD&ĐT) thông tin, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình Sức khỏe học đường của ngành Giáo dục giai đoạn 2026-2035 kèm theo Quyết định số 1991/QĐ-BGDĐT. Mục tiêu của chương trình là nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác y tế trường học và các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, bảo vệ, chăm sóc, quản lý sức khỏe trong cơ sở giáo dục; bảo đảm điều kiện để người học phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần.

Ông Hoàng Đức Minh - Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên (Bộ GD&ĐT). (Ảnh: BTC)

Ông Hoàng Đức Minh cũng cho biết, giai đoạn 2019-2025, dù nhân lực, cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ chăm sóc sức khỏe người học đã được cải thiện, tại nhiều nơi, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa, điều kiện bảo đảm cho công tác y tế trường học vẫn hạn chế.

Hệ thống chính sách về chăm sóc sức khỏe người học, dinh dưỡng học đường chưa hoàn thiện đầy đủ; việc tổ chức, quản lý sức khỏe học sinh, chăm sóc dinh dưỡng và giám sát bữa ăn học đường còn nhiều khó khăn.

Công tác phối hợp liên ngành ở một số nơi chưa đồng bộ, trong khi sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường về chế độ ăn khoa học, hợp lý chưa thực sự hiệu quả. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong lĩnh vực này cũng còn hạn chế.

Từ thực tế trên, Bộ GD&ĐT xác định cần tiếp tục hoàn thiện chính sách về y tế trường học, cơ sở vật chất, thiết bị, vị trí việc làm, định mức nhân sự, dinh dưỡng và tổ chức bữa ăn. Cùng với đó là đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường truyền thông, giáo dục chăm sóc sức khỏe, xây dựng và nhân rộng mô hình hiệu quả, đồng thời huy động nguồn lực xã hội.

Theo nhà báo Triệu Ngọc Lâm, Tổng Biên tập Báo Giáo dục và Thời đại, chăm sóc sức khỏe học đường không còn là câu chuyện riêng của ngành Giáo dục hay Y tế mà là nền tảng đối với sự phát triển toàn diện của học sinh và chất lượng nguồn nhân lực tương lai.

Ông Triệu Ngọc Lâm cho rằng, chính sách và mục tiêu đã rõ, vấn đề là làm thế nào tạo chuyển biến thực chất tại từng nhà trường, địa phương và với mỗi học sinh.

Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng, nguồn lực ngân sách Nhà nước có giới hạn, huy động nguồn lực xã hội là yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, bài toán không chỉ là huy động thêm tiền mà quan trọng hơn là đưa nguồn lực đến đúng nơi cần thiết, sử dụng minh bạch, đúng mục tiêu và tạo ra hiệu quả có thể đo đếm. Truyền thông, đặc biệt là báo chí chính thống, cần đóng vai trò “đi trước, mở đường” trong quá trình này.

Từ thực tế triển khai, ông Triệu Ngọc Lâm chỉ ra 5 rào cản chính gồm nhận thức, cơ chế pháp lý, năng lực, niềm tin và điều phối.

Trong đó, cần chuyển từ tư duy “tài trợ cho học sinh” sang “đầu tư cho con người và nguồn nhân lực tương lai”. Các quy định về tiếp nhận, sử dụng tài trợ cũng cần rõ ràng, minh bạch, vừa kiểm soát xung đột lợi ích, vừa tạo điều kiện để nguồn lực hợp pháp được sử dụng đúng mục tiêu.

Nhà trường và y tế cơ sở cũng cần được nâng cao năng lực xây dựng đề xuất cụ thể để kết nối nguồn lực. Cùng với đó là minh bạch về nhu cầu, nguồn lực, quá trình sử dụng và kết quả.

Một yêu cầu khác là phải có cơ chế điều phối, bởi chăm sóc sức khỏe học đường nằm ở giao điểm giữa Giáo dục, Y tế, gia đình, doanh nghiệp và cộng đồng. Nếu thiếu điều phối, nguồn lực dễ phân tán hoặc tìm đến nơi có khả năng kết nối tốt hơn thay vì nơi có nhu cầu cấp thiết hơn.

Để tháo gỡ, ông Triệu Ngọc Lâm đề xuất thay đổi cách tiếp cận xã hội hóa theo hướng lấy nhu cầu thực tế làm điểm xuất phát, lấy dữ liệu và minh bạch làm nền tảng, xây dựng quan hệ đồng hành dài hạn giữa doanh nghiệp và nhà trường.

Ba nhóm kiến nghị được đưa ra gồm: xây dựng hướng dẫn thống nhất về xã hội hóa nguồn lực chăm sóc sức khỏe học đường; thí điểm hệ thống dữ liệu về nhu cầu sức khỏe học đường tại một số địa phương để điều phối nguồn lực theo nhu cầu thực tế; đào tạo kỹ năng truyền thông, xây dựng đề xuất và vận động nguồn lực cho đội ngũ y tế trường học, cán bộ phụ trách công tác học sinh.

Quang cảnh hội thảo "Đồng hành, kiến tạo tương lai - Vì một Việt Nam khỏe mạnh" (Ảnh: BTC)

Từ góc nhìn quốc tế, bà Jenelle Babb, Cố vấn khu vực về Giáo dục Sức khỏe và Phát triển toàn diện, Văn phòng khu vực UNESCO tại Bangkok, nhấn mạnh mô hình “Trường học nâng cao sức khỏe” là sáng kiến quan trọng nhằm thúc đẩy các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường.

Theo bà, 9/10 quốc gia trên thế giới đã thực hiện chính sách hoặc chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường; hơn 100 quốc gia có chương trình tiêm chủng tại trường học và hầu như quốc gia nào cũng đưa nội dung giáo dục sức khỏe vào chương trình giảng dạy.

Các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường là những khoản đầu tư hiệu quả để bảo đảm tiềm năng con người và phát triển nguồn nhân lực. Bài học được UNESCO nhấn mạnh là sức khỏe học đường phải được coi là một ưu tiên của giáo dục, không phải nhiệm vụ nằm ngoài ngành Giáo dục.

Đối với Việt Nam, bà Jenelle Babb cho rằng cần tiếp tục củng cố cơ chế phối hợp liên ngành; cụ thể hóa bộ tiêu chuẩn toàn cầu về “Trường học nâng cao sức khỏe” phù hợp với bối cảnh Việt Nam; nâng cao năng lực ở tất cả các cấp; xây dựng kế hoạch tài chính và cơ chế giám sát ngay từ đầu.

Bà cũng lưu ý trường học không phải nền tảng để triển khai các can thiệp y tế đơn lẻ hay “cánh tay nối dài” của ngành Y tế. Các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng phải bổ trợ cho hoạt động dạy và học, không lấn át nhiệm vụ giáo dục. “Hệ thống giáo dục không thể tự mình thực hiện thành công việc này”, bà Jenelle Babb nhấn mạnh, đồng thời cho rằng cần xây dựng cơ chế đối tác mạnh mẽ, đa dạng và dựa trên nền tảng tin cậy.

Từ thực tiễn địa phương, ông Nguyễn Vinh Thanh, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Ninh cho biết, địa phương xác định chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe học sinh là nhiệm vụ liên ngành, cần sự tham gia của nhiều chủ thể.

Theo đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, điều phối; các sở, ngành phối hợp thực hiện; chính quyền địa phương tổ chức triển khai; cơ sở giáo dục là trung tâm; gia đình đồng hành; doanh nghiệp, tổ chức xã hội và báo chí hỗ trợ, lan tỏa và bổ sung nguồn lực.

Cơ chế phối hợp từ cấp tỉnh đến cơ sở đã góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe học sinh theo hướng toàn diện, lấy phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu làm trọng tâm. Tuy nhiên, ông Nguyễn Vinh Thanh cho rằng công tác truyền thông về sức khỏe học đường cần tiếp tục được đầu tư. Bảo đảm dinh dưỡng học đường, nhất là đối với học sinh bán trú, vẫn cần chính sách hỗ trợ bền vững.

Bắc Ninh đã có chính sách hỗ trợ 50% mức đóng bảo hiểm y tế đối với học sinh thuộc diện tự tham gia, song yêu cầu chăm sóc sức khỏe theo hướng toàn diện, công bằng đòi hỏi tiếp tục mở rộng nguồn lực an sinh.

Theo ông Nguyễn Vinh Thanh, thời gian tới cần tập trung huy động nguồn lực cho 3 nhiệm vụ: tăng cường truyền thông và nhân rộng mô hình “Trường học an toàn, nâng cao sức khỏe, y tế trường học thân thiện”; từng bước xây dựng chính sách hỗ trợ bữa ăn bán trú cho học sinh; hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho học sinh.

Các đại biểu tại hội thảo thống nhất quan điểm lấy trẻ em làm trung tâm, đưa chính sách vào thực tiễn nhà trường, sử dụng dữ liệu để cải thiện chất lượng và huy động nguồn lực xã hội trên cơ sở chuyên môn, minh bạch, công bằng. Qua đó, chăm sóc sức khỏe học đường từng bước trở thành một bộ phận thiết yếu của quá trình giáo dục, góp phần hình thành thế hệ trẻ phát triển toàn diện và tạo nền móng cho nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai.

Uyên Na

Ngày 11/8, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) phối hợp với Báo Giáo dục và Thời đại tổ chức Hội thảo “Đồng hành, kiến tạo tương lai: Vì một Việt Nam khỏe mạnh”. Hội thảo có sự tham dự của đại diện Bộ GD&ĐT, các sở GD&ĐT, chuyên gia dinh dưỡng, y tế, giáo dục, tổ chức quốc tế và doanh nghiệp.

Tại Hội thảo, ông Hoàng Đức Minh - Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên (Bộ GD&ĐT) thông tin, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình Sức khỏe học đường của ngành Giáo dục giai đoạn 2026-2035 kèm theo Quyết định số 1991/QĐ-BGDĐT. Mục tiêu của chương trình là nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác y tế trường học và các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, bảo vệ, chăm sóc, quản lý sức khỏe trong cơ sở giáo dục; bảo đảm điều kiện để người học phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần.

Ông Hoàng Đức Minh - Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên (Bộ GD&ĐT). (Ảnh: BTC)

Ông Hoàng Đức Minh cũng cho biết, giai đoạn 2019-2025, dù nhân lực, cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ chăm sóc sức khỏe người học đã được cải thiện, tại nhiều nơi, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa, điều kiện bảo đảm cho công tác y tế trường học vẫn hạn chế.

Hệ thống chính sách về chăm sóc sức khỏe người học, dinh dưỡng học đường chưa hoàn thiện đầy đủ; việc tổ chức, quản lý sức khỏe học sinh, chăm sóc dinh dưỡng và giám sát bữa ăn học đường còn nhiều khó khăn.

Công tác phối hợp liên ngành ở một số nơi chưa đồng bộ, trong khi sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường về chế độ ăn khoa học, hợp lý chưa thực sự hiệu quả. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong lĩnh vực này cũng còn hạn chế.

Từ thực tế trên, Bộ GD&ĐT xác định cần tiếp tục hoàn thiện chính sách về y tế trường học, cơ sở vật chất, thiết bị, vị trí việc làm, định mức nhân sự, dinh dưỡng và tổ chức bữa ăn. Cùng với đó là đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường truyền thông, giáo dục chăm sóc sức khỏe, xây dựng và nhân rộng mô hình hiệu quả, đồng thời huy động nguồn lực xã hội.

Theo nhà báo Triệu Ngọc Lâm, Tổng Biên tập Báo Giáo dục và Thời đại, chăm sóc sức khỏe học đường không còn là câu chuyện riêng của ngành Giáo dục hay Y tế mà là nền tảng đối với sự phát triển toàn diện của học sinh và chất lượng nguồn nhân lực tương lai.

Ông Triệu Ngọc Lâm cho rằng, chính sách và mục tiêu đã rõ, vấn đề là làm thế nào tạo chuyển biến thực chất tại từng nhà trường, địa phương và với mỗi học sinh.

Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng, nguồn lực ngân sách Nhà nước có giới hạn, huy động nguồn lực xã hội là yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, bài toán không chỉ là huy động thêm tiền mà quan trọng hơn là đưa nguồn lực đến đúng nơi cần thiết, sử dụng minh bạch, đúng mục tiêu và tạo ra hiệu quả có thể đo đếm. Truyền thông, đặc biệt là báo chí chính thống, cần đóng vai trò “đi trước, mở đường” trong quá trình này.

Từ thực tế triển khai, ông Triệu Ngọc Lâm chỉ ra 5 rào cản chính gồm nhận thức, cơ chế pháp lý, năng lực, niềm tin và điều phối.

Trong đó, cần chuyển từ tư duy “tài trợ cho học sinh” sang “đầu tư cho con người và nguồn nhân lực tương lai”. Các quy định về tiếp nhận, sử dụng tài trợ cũng cần rõ ràng, minh bạch, vừa kiểm soát xung đột lợi ích, vừa tạo điều kiện để nguồn lực hợp pháp được sử dụng đúng mục tiêu.

Nhà trường và y tế cơ sở cũng cần được nâng cao năng lực xây dựng đề xuất cụ thể để kết nối nguồn lực. Cùng với đó là minh bạch về nhu cầu, nguồn lực, quá trình sử dụng và kết quả.

Một yêu cầu khác là phải có cơ chế điều phối, bởi chăm sóc sức khỏe học đường nằm ở giao điểm giữa Giáo dục, Y tế, gia đình, doanh nghiệp và cộng đồng. Nếu thiếu điều phối, nguồn lực dễ phân tán hoặc tìm đến nơi có khả năng kết nối tốt hơn thay vì nơi có nhu cầu cấp thiết hơn.

Để tháo gỡ, ông Triệu Ngọc Lâm đề xuất thay đổi cách tiếp cận xã hội hóa theo hướng lấy nhu cầu thực tế làm điểm xuất phát, lấy dữ liệu và minh bạch làm nền tảng, xây dựng quan hệ đồng hành dài hạn giữa doanh nghiệp và nhà trường.

Ba nhóm kiến nghị được đưa ra gồm: xây dựng hướng dẫn thống nhất về xã hội hóa nguồn lực chăm sóc sức khỏe học đường; thí điểm hệ thống dữ liệu về nhu cầu sức khỏe học đường tại một số địa phương để điều phối nguồn lực theo nhu cầu thực tế; đào tạo kỹ năng truyền thông, xây dựng đề xuất và vận động nguồn lực cho đội ngũ y tế trường học, cán bộ phụ trách công tác học sinh.

Quang cảnh hội thảo "Đồng hành, kiến tạo tương lai - Vì một Việt Nam khỏe mạnh" (Ảnh: BTC)

Từ góc nhìn quốc tế, bà Jenelle Babb, Cố vấn khu vực về Giáo dục Sức khỏe và Phát triển toàn diện, Văn phòng khu vực UNESCO tại Bangkok, nhấn mạnh mô hình “Trường học nâng cao sức khỏe” là sáng kiến quan trọng nhằm thúc đẩy các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường.

Theo bà, 9/10 quốc gia trên thế giới đã thực hiện chính sách hoặc chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường; hơn 100 quốc gia có chương trình tiêm chủng tại trường học và hầu như quốc gia nào cũng đưa nội dung giáo dục sức khỏe vào chương trình giảng dạy.

Các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường là những khoản đầu tư hiệu quả để bảo đảm tiềm năng con người và phát triển nguồn nhân lực. Bài học được UNESCO nhấn mạnh là sức khỏe học đường phải được coi là một ưu tiên của giáo dục, không phải nhiệm vụ nằm ngoài ngành Giáo dục.

Đối với Việt Nam, bà Jenelle Babb cho rằng cần tiếp tục củng cố cơ chế phối hợp liên ngành; cụ thể hóa bộ tiêu chuẩn toàn cầu về “Trường học nâng cao sức khỏe” phù hợp với bối cảnh Việt Nam; nâng cao năng lực ở tất cả các cấp; xây dựng kế hoạch tài chính và cơ chế giám sát ngay từ đầu.

Bà cũng lưu ý trường học không phải nền tảng để triển khai các can thiệp y tế đơn lẻ hay “cánh tay nối dài” của ngành Y tế. Các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng phải bổ trợ cho hoạt động dạy và học, không lấn át nhiệm vụ giáo dục. “Hệ thống giáo dục không thể tự mình thực hiện thành công việc này”, bà Jenelle Babb nhấn mạnh, đồng thời cho rằng cần xây dựng cơ chế đối tác mạnh mẽ, đa dạng và dựa trên nền tảng tin cậy.

Từ thực tiễn địa phương, ông Nguyễn Vinh Thanh, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Ninh cho biết, địa phương xác định chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe học sinh là nhiệm vụ liên ngành, cần sự tham gia của nhiều chủ thể.

Theo đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, điều phối; các sở, ngành phối hợp thực hiện; chính quyền địa phương tổ chức triển khai; cơ sở giáo dục là trung tâm; gia đình đồng hành; doanh nghiệp, tổ chức xã hội và báo chí hỗ trợ, lan tỏa và bổ sung nguồn lực.

Cơ chế phối hợp từ cấp tỉnh đến cơ sở đã góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe học sinh theo hướng toàn diện, lấy phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu làm trọng tâm. Tuy nhiên, ông Nguyễn Vinh Thanh cho rằng công tác truyền thông về sức khỏe học đường cần tiếp tục được đầu tư. Bảo đảm dinh dưỡng học đường, nhất là đối với học sinh bán trú, vẫn cần chính sách hỗ trợ bền vững.

Bắc Ninh đã có chính sách hỗ trợ 50% mức đóng bảo hiểm y tế đối với học sinh thuộc diện tự tham gia, song yêu cầu chăm sóc sức khỏe theo hướng toàn diện, công bằng đòi hỏi tiếp tục mở rộng nguồn lực an sinh.

Theo ông Nguyễn Vinh Thanh, thời gian tới cần tập trung huy động nguồn lực cho 3 nhiệm vụ: tăng cường truyền thông và nhân rộng mô hình “Trường học an toàn, nâng cao sức khỏe, y tế trường học thân thiện”; từng bước xây dựng chính sách hỗ trợ bữa ăn bán trú cho học sinh; hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho học sinh.

Các đại biểu tại hội thảo thống nhất quan điểm lấy trẻ em làm trung tâm, đưa chính sách vào thực tiễn nhà trường, sử dụng dữ liệu để cải thiện chất lượng và huy động nguồn lực xã hội trên cơ sở chuyên môn, minh bạch, công bằng. Qua đó, chăm sóc sức khỏe học đường từng bước trở thành một bộ phận thiết yếu của quá trình giáo dục, góp phần hình thành thế hệ trẻ phát triển toàn diện và tạo nền móng cho nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai.

Uyên Na

Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035 đã xác lập mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể. Tuy nhiên, để chính sách đi vào thực chất, cần tăng cường phối hợp liên ngành, huy động nguồn lực xã hội minh bạch và có thể đo đếm hiệu quả, để học sinh phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần.

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/suc-khoe-hoc-duong-phai-la-mot-phan-cua-giao-duc.html