Sức sống nghề thủ công truyền thống vùng dân tộc thiểu số
Giữa nhịp sống hiện đại và làn sóng công nghiệp hóa, nghề dệt thổ cẩm cùng các di sản thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước bài toán bảo tồn sinh tử. Bằng việc trao truyền tri thức dân gian qua nhiều thế hệ phụ nữ và kết nối sinh kế với du lịch cộng đồng, nghề thủ công không chỉ lưu giữ giá trị quá khứ mà còn đang tìm lại mạch sống bền vững trong nền kinh tế thị trường.
Quy trình kỳ công và tri thức dân gian đúc kết qua nhiều thế hệ
Để tạo nên một tấm thổ cẩm hay bộ trang phục truyền thống hoàn chỉnh, người thợ thủ công vùng cao phải trải qua một hành trình lao động miệt mài với hàng chục công đoạn đòi hỏi sự khéo léo, nhẫn nại và sự tinh tế tuyệt đối. Đối với đồng bào Mông ở Pà Cò (Hòa Bình) hay đồng bào Thái ở Bá Thước (Thanh Hóa), nguyên liệu dệt vải bắt đầu từ những bãi trồng lanh, trồng bông trên sườn núi. Cây lanh sau khi thu hoạch phải qua các khâu tước vỏ, giã mềm, cuộn thành từng nếp rồi tước thành từng sợi nhỏ đều đặn. Việc nối sợi lanh đòi hỏi đôi bàn tay hết sức tỉ mỉ để các mối nối không bị cộm, đảm bảo độ dai và mịn cho sợi vải.
Sau khâu quay sợi, tạo cuộn là kỹ thuật nhuộm màu hoàn toàn tự nhiên từ thảo mộc bản địa - một kho tàng tri thức sinh thái độc đáo của các tộc người. Màu xanh chàm đặc trưng được tạo nên từ lá chàm ngâm ủ kỹ lưỡng với vôi và tro bếp; màu đỏ, vàng được chiết xuất từ củ mài, vỏ cây, củ dành dành hay các loại lá rừng. Đồng bào Mông còn nổi tiếng với kỹ thuật vẽ hoa văn bằng sáp ong trên vải lanh: người thợ dùng bút vẽ bằng đồng đun nóng sáp ong, cẩn trọng chấm từng đường nét hình học, hình quả trám, sóng nước hay hoa văn mặt trời lên mặt vải trước khi mang đi nhuộm chàm nhiều lần. Khi luộc vải trong nước sôi, lớp sáp ong tan đi để lộ ra những hoa văn màu trắng nổi bật trên nền chàm xanh thẫm.

Việc nối sợi lanh đòi hỏi đôi bàn tay hết sức tỉ mỉ để các mối nối không bị cộm, đảm bảo độ dai và mịn cho sợi vải - Ảnh Nguyễn Hưng
Trên khung dệt gỗ truyền thống, nhịp thoi đưa đều đặn đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa tay, chân và ánh mắt. Mỗi tộc người gửi gắm vào từng đường dệt một hệ ký hiệu thẩm mỹ và nhân sinh quan riêng biệt. Thổ cẩm người Mường tinh tế với các đường răng cưa, hình quả trám biểu tượng cho sự no đủ; thổ cẩm người Thái rực rỡ sắc màu với hình chim muông, hoa lá kết hợp đường kẻ song song; trong khi vải dệt người Jrai, Xê Đăng nổi bật với sự phối hợp tương phản giữa ba màu đỏ, đen và trắng. Một bộ trang phục truyền thống hoàn chỉnh có khi mất từ vài tuần đến vài tháng lao động liên tục, thể hiện tình yêu thiên nhiên, sự kiên trì và tài hoa đỉnh cao của người phụ nữ vùng cao.
Nguy cơ mai một và bài toán giữ nghề trước áp lực kinh tế thị trường
Dù chứa đựng những giá trị văn hóa và nghệ thuật đặc sắc, nghề dệt thủ công truyền thống đang đối mặt với nguy cơ suy giảm nghiêm trọng trước tác động của kinh tế thị trường và xu hướng đô thị hóa. Sự xuất hiện phổ biến của các loại vải dệt công nghiệp, quần áo may sẵn giá rẻ, mẫu mã đa dạng trên thị trường khiến nhu cầu sử dụng trang phục truyền thống trong sinh hoạt hàng ngày của đồng bào giảm đáng kể. Thế hệ trẻ ở nhiều bản làng có xu hướng lựa chọn trang phục hiện đại gọn nhẹ, tiện lợi hơn trong học tập và lao động.
Bên cạnh sự thay đổi về thói quen tiêu dùng, thời gian lao động kéo dài và chi phí nguyên liệu cao cũng là rào cản lớn khiến việc duy trì nghề dệt gặp khó khăn. Việc làm ra một sản phẩm thủ công mất hàng chục ngày công, nhưng giá bán ra trên thị trường tự do trước đây thường không tương xứng với sức lao động bỏ ra, dẫn đến thu nhập từ nghề dệt không đủ bảo đảm cuộc sống gia đình. Nhiều phụ nữ trẻ gạt sang một bên khung dệt để đi làm tại các khu công nghiệp hoặc chuyển sang các công việc nông nghiệp khác có thu nhập tức thì.
Hơn thế nữa, nguồn nguyên liệu tự nhiên như cây lanh, cây chàm ngày càng thu hẹp do biến đổi quy hoạch đất sản xuất, trong khi lực lượng nghệ nhân am hiểu toàn bộ kỹ thuật tinh xảo ngày càng lớn tuổi. Nếu không có những giải pháp can thiệp kịp thời và chính sách hỗ trợ đầu ra bài bản, các tri thức dân gian truyền miệng và kỹ năng thủ công độc đáo này nguy cơ bị gián đoạn và chìm vào quên lãng.
Mạch ngầm truyền nghề và sức sống mới từ du lịch cộng đồng
Đứng trước nguy cơ mai một, vai trò của những người phụ nữ cao tuổi và các nghệ nhân dân gian trở thành ngọn lửa giữ gìn bản sắc. Trong quan niệm truyền thống của nhiều dân tộc như Thái, Jrai, Mông, biết dệt vải không chỉ là tiêu chuẩn đánh giá sự khéo léo, chăm chỉ của người con gái khi trưởng thành mà còn là nghĩa vụ trao truyền dòng chảy văn hóa gia đình. Tại các bản làng từ Mai Châu (Hòa Bình), Bá Thước (Thanh Hóa) cho đến Chư Păh (Gia Lai), các bà, các mẹ vẫn thầm lặng cầm tay chỉ việc, dạy cho con cháu từng cách nối sợi lanh, chỉnh thoi dệt và thêu hoa văn truyền thống.

Khi nghề thủ công mang lại sinh kế vững chắc, người dân bản địa - đặc biệt là thế hệ trẻ - sẽ tự nguyện và chủ động trở thành chủ thể bảo tồn văn hóa - Ảnh Quang Dương
Đặc biệt, sự chuyển hướng chiến lược sang phát triển du lịch cộng đồng (homestay) theo Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 đã mở ra sinh kế hoàn toàn mới cho các làng nghề. Khi du khách trong và ngoài nước đến trải nghiệm không gian bản địa, các sản phẩm thổ cẩm không còn dừng lại ở trang phục cá nhân mà đã biến chuyển linh hoạt thành các sản phẩm lưu niệm đa dạng như túi xách, khăn piêu, vỏ gối, đệm ngồi, tranh treo tường và đồ trang trí không gian lưu trú.
Tại bản Bút (Xã Nam Xuân, Tỉnh Thanh Hóa), nơi đồng bào dân tộc Thái sinh sống, nghề dệt thổ cẩm bản Bút nổi tiếng với kỹ thuật dệt hoa văn mô phỏng thiên nhiên, hoa lá, chân váy, vỏ chăn và gấm thêu tỉ mỉ. Tổ hợp tác dệt thổ cẩm bản Bút quy tụ các nghệ nhân cao tuổi cầm tay chỉ việc cho thế hệ trẻ. Khi phát triển du lịch sinh thái cộng đồng, bản Bút đưa hoạt động ngồi khung dệt gỗ, trải nghiệm quay sợi, tập dệt hoa văn cùng nghệ nhân thành sản phẩm du lịch độc đáo thu hút đông đảo du khách.
Làng Kép (Xã Ia Mơ Nông, Tỉnh Gia Lai) nơi đồng bào dân tộc Jrai (Gia Rai) sinh sống, thổ cẩm người Jrai đặc trưng bởi sự phối màu tương phản giữa 3 sắc độ đen, đỏ và trắng cùng các hoa văn đối xứng mang đậm dấu ấn núi rừng Tây Nguyên. Nơi đây đã thành lập Câu lạc bộ dệt thổ cẩm truyền thống, tổ chức các không gian trình diễn dệt vải ngoài trời cho du khách. Phụ nữ Jrai đã sáng tạo thêm các sản phẩm quà tặng lưu niệm gọn nhẹ như ví thổ cẩm, túi đeo, dây chìa khóa, giúp tăng thêm thu nhập trực tiếp ngoài sản xuất nông nghiệp.
Hay tại Pà Cò (Xã Pà Cò, Tỉnh Hòa Bình), nơi đồng bào dân tộc Mông (H'Mông) sinh sống, cũng nổi tiếng với quy trình làm thổ cẩm lanh khép kín: trồng lanh, tước sợi, nhuộm chàm tự nhiên và đặc biệt là nghệ thuật vẽ hoa văn bằng sáp ong đun nóng bằng bút đồng tinh xảo. Thông qua Hợp tác xã dệt thổ cẩm lanh kết hợp cùng mô hình homestay du lịch cộng đồng và chợ phiên Pà Cò, du khách quốc tế và trong nước được tham gia các tour trải nghiệm tự tay vẽ sáp ong, nhuộm chàm. Sản phẩm lanh Pà Cò hiện đã trở thành đồ trang trí cao cấp (tranh vải, vỏ gối, đệm ngồi) cho các khu nghỉ dưỡng sinh thái.
Việc thành lập các Câu lạc bộ, các tổ hợp tác dệt thổ cẩm đã giúp kết nối các hộ gia đình, chuẩn hóa mẫu mã và ký kết hợp tác tiêu thụ với các doanh nghiệp du lịch. Khách du lịch không chỉ thích thú mua sắm sản phẩm mà còn trực tiếp tham gia vào các tour trải nghiệm trồng lanh, tập dệt vải, nhuộm chàm cùng nghệ nhân. Nhờ đó, nghề truyền thống tạo ra nguồn thu nhập ổn định, giúp phụ nữ vùng cao tự chủ kinh tế và thêm tự hào về di sản của dân tộc mình.
Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và nghề thủ công truyền thống không thể thực hiện bằng tâm lý khép kín hay lưu giữ thụ động trong bảo tàng. Thông điệp cốt lõi đặt ra hiện nay là phải biến di sản thành tài sản, đưa giá trị văn hóa truyền thống tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị kinh tế - xã hội đương đại.
Khi nghề thủ công mang lại sinh kế vững chắc, người dân bản địa - đặc biệt là thế hệ trẻ - sẽ tự nguyện và chủ động trở thành chủ thể bảo tồn văn hóa. Sự kết hợp giữa tri thức dân gian lâu đời với tư duy thị trường, thiết kế sáng tạo và du lịch sinh thái chính là chìa khóa vàng để sợi chỉ xanh truyền thống tiếp tục dệt nên những nấc thang phát triển mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi./.
