Tăng cường 'tiền kiểm' và 'hậu kiểm' đối với sản phẩm thực phẩm nguy cơ cao

Bộ Y tế đang đề nghị xây dựng Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) nhằm giải quyết kịp thời các hạn chế, vướng mắc, bất cập trong các quy định của Luật An toàn thực phẩm hiện hành. Việc sửa đổi nhằm siết chặt quản lý từ khâu sản xuất đến khi sản phẩm thực phẩm được lưu thông trên thị trường, kết hợp tăng cường cả 'tiền kiểm' và 'hậu kiểm' đối với sản phẩm nguy cơ cao để bảo đảm các sản phẩm lưu thông trên thị trường an toàn và chất lượng cho người sử dụng.

Hệ thống quản lý chưa kiểm soát được chất lượng thực phẩm

Sau 15 năm thực hiện, Luật An toàn thực phẩm (năm 2010) đã đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước về thực phẩm. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy một số quy định của Luật An toàn thực phẩm (ATTP) đã không còn phù hợp yêu cầu quản lý, tạo ra một số vướng mắc, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm, gây ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng.

Đoàn kiểm tra của Bộ Y tế kiểm tra tại một phòng khám y học cổ truyền. Nguồn: nld.com.vn

Đoàn kiểm tra của Bộ Y tế kiểm tra tại một phòng khám y học cổ truyền. Nguồn: nld.com.vn

Một trong những vướng mắc đó, theo Bộ Y tế là hệ thống quản lý chưa kiểm soát được chất lượng thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm chức năng trong quá trình sản xuất, lưu thông trên thị trường.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm: “An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người”, tương tự như vậy khoản 6 Điều này cũng quy định “điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm là những quy chuẩn kỹ thuật và những quy định khác đối với thực phẩm… nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối với sức khỏe, tính mạng con người”. Điều này cho thấy, Luật An toàn thực phẩm mới tập trung vào vấn đề an toàn thực phẩm mà ít quan tâm đến vấn đề chất lượng của thực phẩm. Hoạt động kiểm nghiệm đối với sản phẩm phải đăng ký bản công bố chỉ yêu cầu “Phiếu kết quả kiểm nghiệm an toàn thực phẩm của sản phẩm… gồm các chỉ tiêu an toàn do Bộ Y tế ban hành theo nguyên tắc quản lý rủi ro phù hợp với quy định của quốc tế hoặc các chỉ tiêu an toàn theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn tương ứng do tổ chức, cá nhân công bố trong trường hợp chưa có quy định của Bộ Y tế” (điểm c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP), không bắt buộc phải kiểm nghiệm các chỉ tiêu liên quan đến chất lượng sản phẩm.

Luật An toàn thực phẩm được ban hành năm 2010, khi đó nhận thức về thực phẩm chức năng của Việt Nam và thế giới còn hạn chế. Luật quy định về “Thực phẩm chức năng lần đầu tiên ra thị trường” phải có báo cáo hiệu quả công dụng, tuy nhiên Luật An toàn thực phẩm lại không có khái niệm thực phẩm chức năng lần đầu tiên ra thị trường. Do đó, trên thực tế rất khó để xác định thế nào là “lần đầu tiên ra thị trường”, điều này gây khó khăn trong quá trình thực hiện.

Cùng với đó, thực phẩm nguy cơ cao ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng, nhưng hiện nay các cơ sở sản xuất nhóm thực phẩm nguy cơ cao như: thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt; sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi; thực phẩm bổ sung hiện nay lại chưa có quy định bắt buộc áp dụng Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đạt yêu cầu Thực hành sản xuất tốt (GMP) hoặc Tiêu chuẩn toàn cầu về an toàn thực phẩm (BRC) hoặc Chứng nhận hệ thống an toàn thực phẩm (FSSC 22000) hoặc chứng nhận tương đương. Tại khoản 4 Điều 4 Luật An toàn thực phẩm 2010 chỉ quy định: thiết lập khuôn khổ pháp lý và tổ chức thực hiện lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống Thực hành sản xuất tốt (GMP), Thực hành vệ sinh tốt (GHP), Phân tích nguy cơ và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) và các hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tiên tiến khác trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Tăng kiểm soát thực phẩm nguy cơ cao từ sản xuất đến lưu thông

Để bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe cộng đồng việc sửa đổi Luật là rất cần thiết. Theo đó, siết chặt quản lý từ khâu sản xuất đến khi sản phẩm thực phẩm được lưu thông trên thị trường, kết hợp tăng cường cả “tiền kiểm” và “hậu kiểm” đối với sản phẩm nguy cơ cao để bảo đảm các sản phẩm lưu thông trên thị trường an toàn và chất lượng cho người sử dụng. Điều này bắt buộc các cơ sản xuất sản phẩm thực phẩm nguy cơ cao áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất. Cùng với đó, tăng cường quản lý cơ sở kinh doanh sản phẩm thực phẩm thông qua các hoạt động tiền kiểm, hậu kiểm đối với sản phẩm thực phẩm.

Để thực hiện được yêu cầu này, cần tăng cường quản lý đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thực phẩm có nguy cơ cao. Theo đó, cần bổ sung quy định mới yêu cầu các cơ sở sản xuất sản phẩm thực phẩm nguy cơ cao (không bao gồm sản phẩm bảo vệ sức khỏe) phải đáp ứng điều kiện sản xuất tiên tiến trên thế giới như HACCP; ISO 22000; IFS; BRC; FSSC 22000... Đồng thời, vẫn duy trì yêu cầu các cơ sở sản xuất sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe phải có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đạt yêu cầu thực hành sản xuất tốt (GMP) thực phẩm bảo vệ sức khỏe.

Cùng với đó, trước khi lưu hành trên thị trường cơ sở sản xuất thực phẩm phải đăng ký lưu hành sản phẩm và quy định thời hạn hiệu lực của giấy đăng ký lưu hành và kiểm soát toàn bộ quá trình lưu hành của sản phẩm thực phẩm thông qua việc thông báo cho cơ quan quản lý có thẩm quyền liên quan đến sản phẩm. Đối với sản phẩm thực phẩm nhập khẩu có nguy cơ cao ngoài việc đăng ký lưu hành còn bổ sung quy định tăng cường hoạt động kiểm tra nhà nước.

Thực phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng, do đó ngoài tiền kiểm thì công tác hậu kiểm cần đặc biệt quan tâm. Theo đó, cần tập trung việc kiểm tra hồ sơ, thủ tục cấp giấy đăng ký lưu hành, công bố tiêu chuẩn áp dụng, giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện kinh doanh thực phẩm; chất lượng, an toàn của sản phẩm thực phẩm trong quá trình kinh doanh và các sản phẩm thực phẩm có nguy cơ cao, sản phẩm thực phẩm có khả năng sử dụng sai mục đích, dễ bị lạm dụng. Bên cạnh đó, tăng cường quản lý hoạt động quảng cáo trên sàn thương mại điện tử và nền tảng xã hội. Theo đó, công khai thông tin bản đăng ký công bố sản phẩm hoặc hồ sơ công bố chất lượng, hồ sơ quảng cáo được cơ quan có thẩm quyền xác nhận trên sàn thương mại điện tử và nền tảng xã hội. Đồng thời, giám sát đơn vị kinh doanh phát hành quảng cáo, người chuyển tải quảng cáo, người có ảnh hưởng thực hiện quảng cáo thực phẩm, người nổi tiếng và người có ảnh hưởng phải công khai rõ ràng mối quan hệ tài trợ khi quảng cáo.

Đối với cơ sở kinh doanh sản phẩm thực phẩm (bao gồm sản phẩm thực phẩm nguy cơ cao): phải đáp ứng điều kiện bảo quản, hệ thống chất lượng, tài liệu chuyên môn kỹ thuật và nhân sự phù hợp để đảm bảo chất lượng, an toàn sản phẩm, thực phẩm.

Các sản phẩm nguy cơ cao là những sản phẩm thực phẩm sử dụng cho đối tượng dễ bị tổn thương (người già, trẻ em), người có nguy cơ mắc bệnh như tiểu đường, huyết áp…, dễ bị lạm dụng. Do đó, Bộ Y tế xác định xây dựng các giải pháp tổng thể để tăng cường quản lý cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thực phẩm để bảo đảm an toàn, chất lượng đối với những sản phẩm thực phẩm nguy cơ cao từ khâu sản xuất đến người tiêu dùng đối với sản phẩm nguy cơ cao là điều rất cần thiết. Chỉ khi có đủ cơ chế kiểm soát, giám sát thì mới nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm, mới bảo đảm an toàn sức khỏe, tính mạng của người sử dụng.

Hà An

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/tang-cuong-tien-kiem-va-hau-kiem-doi-voi-san-pham-thuc-pham-nguy-co-cao-10402562.html