Tàu không số - những chiến công huyền thoại - Bài 2: Đất mũi Cà Mau và những chuyến hàng đầu tiên

Sau ngày thành lập, Đoàn 759 vừa ổn định tổ chức vừa tích cực chuẩn bị bến bãi, tàu thuyền cho những chuyến đi. Thời cơ đưa vũ khí vào chiến trường bằng đường biển đã đến. Tuyến đường chạy suốt theo chiều dài đất nước, là cầu nối để đưa vũ khí vào chiến trường nhanh nhất, hiệu quả nhất. Đã có nhiều chuyến tàu xuất phát từ hậu phương miền Bắc cập bến miền Nam rồi lại trở về miền Bắc. Nhưng cũng có những con tàu cùng với cán bộ, chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại, hóa thân thành sóng nước...

Tàu không số vào Khu 9

Mỗi lần có dịp trở lại Bến K15 (phường Đồ Sơn, TP Hải Phòng), các cựu chiến binh của Đoàn tàu không số lại bồi hồi xúc động nhớ lại không khí thiêng liêng đêm 11-10-1962, khi cả đơn vị làm lễ tiễn con tàu gỗ mang tên Phương Đông 1, chở 30 tấn vũ khí nhận lệnh xuất phát. Tàu do đồng chí Lê Văn Một làm Thuyền trưởng, đồng chí Bông Văn Dĩa làm Chính trị viên; thuyền viên gồm một số người là thành viên của các đội tàu vượt biển từ Nam ra năm 1961. Vượt qua sóng gió và sự phong tỏa của kẻ thù, ngày 16-10-1962, tàu Phương Đông 1 đã cập bến Vàm Lũng (Cà Mau).

Dù không có dịp được gặp Thuyền trưởng Lê Văn Một và Chính trị viên Bông Văn Dĩa nhưng trong hành trình theo các cựu chiến binh của Đoàn tàu không số, tôi đã được đến thăm gia đình, quê hương của hai ông. Thuyền trưởng Lê Văn Một sinh năm 1921, quê ở xã Điều Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (nay là phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp). Chính trị viên Bông Văn Dĩa sinh năm 1905, quê ở ấp Rạch Gốc, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau (nay là xã Phan Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau). Tìm hiểu về cuộc đời hoạt động cách mạng của hai ông, tôi phát hiện có một sự trùng hợp vô cùng lý thú. Đó là hồi Nam Bộ kháng chiến (đầu năm 1946), con thuyền mang tên Chiến Thắng chở 50 tấn vũ khí mua từ Thái Lan bí mật đưa về nước cũng do ông Bông Văn Dĩa làm Chính trị viên và ông Lê Văn Một làm Thuyền trưởng. 16 năm sau, lịch sử đã được lặp lại trên con tàu Phương Đông 1-Tàu không số đầu tiên chở vũ khí từ miền Bắc vào Nam thành công, hai ông lại sát cánh bên nhau với vai trò Thuyền trưởng và Chính trị viên. Điều trùng hợp nữa là cả hai ông cùng mất vào năm 1982.

Trở lại thăm bến Vàm Lũng-nơi tàu Phương Đông 1 cập bến cùng 30 tấn vũ khí, ông Nguyễn Xuân Thơm là một trong những người ở bến được cử đón tàu ngày ấy nhớ lại: "Trước 10 ngày chúng tôi đã vọng ra biển để đón, nhưng đến ngày thứ 11 thì tàu Phương Đông 1 mới vô. Hôm ấy, từ 6 giờ sáng, anh em tôi ở bến đã phát hiện có cái tàu lớn mà lạ. Chúng tôi không nghĩ tàu của miền Bắc đưa vũ khí vào miền Nam lại lớn như vậy, vì anh em tôi chỉ hình dung tàu nhỏ xíu như mấy thuyền vượt biển ra Bắc năm trước, nên không dám sáp lại. Chúng tôi đánh tín hiệu đèn để hỏi thì tàu Phương Đông 1 đáp tín hiệu trả lời đúng. Lúc đó chúng tôi mới vỡ òa trong sung sướng và sáp lại, kéo cờ lên để nhận nhau và tổ chức hướng dẫn tàu Phương Đông 1 vào qua cửa Vàm Lũng"...

Tin vui chuyến đi của tàu Phương Đông 1 thành công được báo cáo lên Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Hồ đã điện biểu dương Đoàn 759 và chỉ thị hãy nhanh chóng rút kinh nghiệm, tiếp tục vận chuyển nhanh, nhiều vũ khí hơn nữa cho đồng bào miền Nam đánh giặc.

Vậy là từ những con thuyền vượt biển ra Bắc đầu tiên, tuyến đường biển nối liền hậu phương lớn với tiền tuyến lớn không chỉ là một thử nghiệm và mong ước mà đã trở thành hiện thực. Chuyến đi đầu tiên thắng lợi đã làm tiền đề cho những chuyến đi tiếp theo. Đêm 16-10-1962, khi tàu Phương Đông 1 vào bến Vàm Lũng an toàn thì tàu Phương Đông 2 xuất phát, do ông Đinh Đạt làm Thuyền trưởng, ông Lê Công Cần làm Chính trị viên. Ngày 14-11-1962, tàu Phương Đông 3 do Thuyền trưởng Nguyễn Đức Dục và Chính trị viên Hồ Đức Thắng chỉ huy lên đường. Ngày 14-12-1962, tàu Phương Đông 4 do ông Lê Văn Thêm làm Thuyền trưởng và ông Đặng Văn Thanh làm Chính trị viên xuất phát.

Cựu chiến binh Hội truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển tưởng niệm các liệt sĩ tại cửa Vàm Lũng (Cà Mau), tháng 3-2008.

Cựu chiến binh Hội truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển tưởng niệm các liệt sĩ tại cửa Vàm Lũng (Cà Mau), tháng 3-2008.

Tất cả chuyến đi của những con tàu mang tên Phương Đông đều vào được bến Cà Mau an toàn, trong hai tháng đã đưa được 111 tấn vũ khí vào Khu 9. Đây là một thắng lợi lớn, đáp ứng kịp thời cho LLVT của ta ở cực Nam Nam Bộ đang phát triển, đang rất cần vũ khí. Việc đưa được vũ khí vào vùng đất tận cùng của Tổ quốc có ý nghĩa rất lớn, cổ vũ mãnh liệt về niềm tin cho đồng bào, chiến sĩ đang chiến đấu, củng cố quyết tâm của nhân dân miền Nam trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, củng cố niềm tin vào Đảng, vào hậu phương lớn miền Bắc. Đặc biệt, đó là thời điểm địch mở cuộc càn lớn mang tên “Sóng tình thương” vào vùng Năm Căn (Cà Mau). Tàu chiến của địch nhiều như cua bò vào khắp các kênh rạch, máy bay trực thăng lượn lờ kín trên không và đổ quân, bắn phá. Nhờ có súng đạn đưa vào kịp thời từ 4 con tàu mang tên Phương Đông, quân và dân vùng cực Nam Nam Bộ đã anh dũng chiến đấu, đập tan chiến dịch càn quét của địch, bắn chìm và phá hủy 20 tàu chiến các loại. Từ đó, bến Vàm Lũng trở thành địa điểm ghi dấu những kỷ niệm sâu sắc của nhiều lớp cán bộ, chiến sĩ chở vũ khí vào đây.

Hóa thân vào sóng nước Cà Mau

Thành công của 4 chuyến tàu Phương Đông tạo tiền đề để nhiều chuyến tàu sau đó đưa hàng nghìn tấn vũ khí từ miền Bắc vào bến Cà Mau. Nhưng cũng trên hải trình ấy, có những con tàu đã mãi mãi nằm lại cùng sóng biển, như: Tàu 165 (Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm); Tàu 100 (Thuyền trưởng Lê Minh Sơn); Tàu 645 (Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu); Tàu 187 (Thuyền trưởng Phan Xã) và nhiều con tàu khác...

Tôi từng nhiều lần được gặp Đại tá Khưu Ngọc Bảy, nguyên Đoàn trưởng Đoàn 962 (nay là Lữ đoàn 962, Quân khu 9). Khi là bến trưởng tiếp nhận vũ khí của bến Vàm Lũng, ông Bảy không thể nhớ đã bao lần hồi hộp chờ tàu, niềm vui sướng vỡ òa khi đón được tàu vào bến... Nhưng 7 lần chứng kiến đồng đội phải hủy tàu, thân xác các thủy thủ cùng con tàu tan vào sóng biển Cà Mau thì ông không thể nào quên.

Ông Bảy bồi hồi kể: "Trong hơn 10 năm làm nhiệm vụ chờ đón tàu, tiếp nhận vũ khí tại bến Cà Mau, có 7 lần tôi chứng kiến Tàu không số của ta gặp địch, phải hủy. Trong đó, chuyến làm tim tôi nhói đau đến tận bây giờ là Tàu 165 của Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm, khi vào cách bờ khoảng 20 hải lý thì bị địch bao vây. Tàu điện về sở chỉ huy báo cáo đã rơi vào vòng bao vây rất chặt của tàu và máy bay địch, khiến tàu không ra cũng không thể vào bờ được, nên xin được hủy tàu trên biển. Ở trong bờ hướng ra, chúng tôi thấy một cột lửa bốc cao trên mặt biển, rồi tiếng nổ như xé trời giữa đêm lạnh khiến chúng tôi chết lặng. Đêm đó, anh em tôi ngồi lặng im cho tới sáng, mắt dõi ra biển để xem đồng đội mình trên tàu có ai trôi dạt vào không. Điều đau đớn và xót xa nhất là chúng tôi ngóng đợi trong nhiều ngày nhưng vẫn không thấy"...

Thông tin về Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm và Tàu 165, lịch sử Lữ đoàn 125 ghi: Đồng chí Nguyễn Chánh Tâm, sinh năm 1935, quê ở xã Long Tuyền (nay là phường Long Tuyền, TP Cần Thơ). Năm 1954, ông tập kết ra Bắc. Thực hiện quyết tâm chi viện cho chiến trường miền Nam tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chỉ huy Đoàn 125 cử 4 tàu đi làm nhiệm vụ đặc biệt, gồm: Tàu 43, Tàu 56, Tàu 165 và Tàu 235. Xuất phát đêm 25-2, đến đêm 29-2-1968, tàu vào đến gần cửa Vàm Lũng thì bị địch phát hiện. Cán bộ, chiến sĩ Tàu 165 đã chiến đấu anh dũng trong vòng vây của tàu chiến và máy bay địch. Cuộc chiến đấu không cân sức, khi nhận thấy Tàu 165 không còn khả năng an toàn, để bảo đảm bí mật cho con đường vận chuyển chiến lược trên Biển Đông, để tàu và vũ khí không bị rơi vào tay địch, Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm đã cho hủy tàu. Tất cả cán bộ, chiến sĩ Tàu 165 anh dũng hy sinh, thân thể cùng con tàu hòa vào sóng biển Cà Mau. Ngày 23-5-2005, liệt sĩ Nguyễn Chánh Tâm được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Vâng! Sau tiếng nổ, 18 cán bộ, chiến sĩ Tàu 165 đã không còn một ai! Cùng các cựu chiến binh của Đoàn tàu không số về thăm lại cửa Vàm Lũng, chúng tôi không khỏi bùi ngùi! Các thủy thủ ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, nhiều người vừa bước qua tuổi vị thành niên. Nơi cửa biển vùng cực Nam Tổ quốc, giữa mênh mang sóng nước, đoàn cựu chiến binh xúc động xướng tên từng người đã ra đi trên Tàu 165 ngày ấy: Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm, Chính trị viên Nguyễn Ngọc Lương, Thuyền phó Hoàng Văn Tiết và Nguyễn Văn Thông, Chính trị viên phó Nguyễn Văn Danh; cùng các chiến sĩ: Nguyễn Văn Thị, Trần Văn Dự, Nguyễn Duy Tạo, Lý Khánh Hồng, Vương Văn Duyên, Nguyễn Kính, Nguyễn Văn Em, Mai Đức Long, Nguyễn Bình Văn, Trần Văn Quồi, Phạm Văn Phương, Trần Văn Bé, Vũ Hữu Nghị. Mong các liệt sĩ yên nghỉ cùng sóng nước Cà Mau...

(còn nữa)

CHU ANH

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/phong-su-dieu-tra/phong-su/tau-khong-so-nhung-chien-cong-huyen-thoai-bai-2-dat-mui-ca-mau-va-nhung-chuyen-hang-dau-tien-1061808