Tháo gỡ 'điểm nghẽn' cho nhân lực tâm lý lâm sàng tại Việt Nam
Hội thảo về nhân lực tâm lý lâm sàng tại Việt Nam đã chỉ ra những vướng mắc về hành lang pháp lý, tiêu chuẩn hành nghề và cơ chế đãi ngộ, đồng thời đề xuất giải pháp tháo gỡ, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe tinh thần.
Sáng ngày 16/10, Trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Y tế, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế - Bộ Y tế, Hội Tâm lý trị liệu Việt Nam tổ chức hội thảo về "Thực trạng và nhu cầu vị trí việc làm của nhân viên tâm lý lâm sàng tại Việt Nam: Cơ hội, thách thức và khuyến nghị chính sách".
Các báo cáo được đưa ra tập trung phân tích nhu cầu nhân lực tâm lý lâm sàng, thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực, đồng thời đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách, từng bước xác lập vị trí việc làm cho đội ngũ này trong hệ thống y tế.

Toàn cảnh Hội thảo quốc tế: “Thực trạng và nhu cầu vị trí việc làm của nhân viên tâm lý lâm sàng tại Việt Nam: Cơ hội, thách thức và khuyến nghị chính sách" (Ảnh: Trần Minh)
Nhu cầu cấp thiết về chăm sóc sức khỏe tinh thần trong hệ thống y tế
Thông tin tại hội thảo cho thấy bên cạnh thể chất, chăm sóc sức khỏe tinh thần là điều rất quan trọng trong xã hội hiện đại đang phát triển nhanh chóng. Định nghĩa sức khỏe theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) không chỉ là sự vắng bóng bệnh tật, mà là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội.
Phát biểu tại hội thảo, TS. Nguyễn Hồng Sơn, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Y tế chỉ ra thực tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh cho thấy, khi người bệnh mắc các bệnh lý nặng, hiểm nghèo (như ung thư, đột quỵ, tim mạch) hoặc các rối loạn tâm thần, họ đều trải qua những biến động tâm lý sâu sắc.
Do đó, sự hiện diện của đội ngũ nhân viên tâm lý lâm sàng là mảnh ghép không thể thiếu để xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe toàn diện.

TS. Nguyễn Hồng Sơn, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Y tế phát biểu tại hội thảo (Ảnh: Trần Minh)
Thực trạng đào tạo chuyên ngành tâm lý lâm sàng tại Việt Nam từ góc nhìn đa chiều
Đánh giá về việc đào tạo và cung ứng nhân lực, PGS.TS. Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội chỉ ra những điểm nghẽn trong công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo PGS.TS. Trần Thành Nam, mặc dù nhu cầu thực tế tại các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và trung tâm bảo trợ xã hội là cực kỳ lớn, hệ thống các cơ sở đào tạo trong nước vẫn chưa đáp ứng kịp thời cả về số lượng lẫn chuẩn hóa đầu ra theo đặc thù của khối y tế.

PGS.TS. Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội phát biểu (Ảnh: Trần Minh)
Từ góc nhìn của Tổ chức Y tế thế giới về nguồn nhân lực chăm sóc sức khỏe tâm thần, TS.BS. Lại Đức Trường, Phụ trách về quản lý, điều trị bệnh không lây nhiễm, Tổ chức Y tế thế giới cho rằng thực trạng tại Việt Nam hiện đang đối mặt với nhiều thách thức lớn. Cụ thể, tỷ lệ mắc các rối loạn tâm thần ở nước ta chiếm khoảng 14% (tương đương thế giới), nhưng tỷ lệ người bệnh được điều trị còn rất thấp, chưa đến 10%.
Nhận thức của người dân vẫn còn nhiều sai lệch và nặng nề kỳ thị, thường chỉ chú ý đến các rối loạn tâm thần phân liệt nặng mà vô tình bỏ qua các dạng khác như trầm cảm hay lo âu. Đặc biệt là hệ thống y tế còn nhiều bất cập khi số lượng chuyên gia tâm lý và bác sĩ tâm thần quá thiếu hụt (tâm lý lâm sàng Việt Nam chỉ đạt khoảng 0.1 so với chuẩn quốc tế là 2.0), đi kèm với hạn chế trong phân bổ ngân sách và cơ chế chi trả bảo hiểm y tế .
Bổ sung thêm về thực trạng này, GS. TS. Đặng Hồng Minh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lâm sàng về Xã hội, Tâm lý và Giáo dục, Trường Đại học Giáo dục – ĐHQG Hà Nội nhấn mạnh rằng việc thiếu sự liên thông đồng bộ giữa chương trình đào tạo của khối khoa học xã hội với tiêu chuẩn hành nghề của khối y tế đang tạo ra một khoảng trống lớn. Nhiều cử nhân, thạc sĩ tâm lý sau khi ra trường có nhiệt huyết và chuyên môn nhưng lại vướng các rào cản hành chính về văn bằng, chứng chỉ hành nghề khi bước chân vào môi trường bệnh viện.
Theo khảo sát, nhân viên tâm lý lâm sàng hiện chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 2%) trong các cơ sở y tế, chủ yếu tập trung tại các bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh và các trung tâm bảo trợ xã hội. Về chất lượng nguồn nhân lực, phần lớn người làm nghề có trình độ đại học và sau đại học, nhưng có đến một nửa được đào tạo qua các hình thức chưa chính thức do thiếu vắng một khung chương trình chuẩn hóa đồng bộ.
Đáng chú ý, các cơ sở y tế hiện nay đang thiếu hụt các đơn vị chuyên khoa tâm lý độc lập cũng như thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa bác sĩ tâm thần, nhân viên tâm lý lâm sàng và nhân viên công tác xã hội.
Sự thiếu hụt này dẫn đến thực tế xảy ra không ít khó khăn trong cung cấp các dịch vụ trị liệu tâm lý không dùng thuốc, làm cho nhiều bệnh nhân không được hỗ trợ kịp thời trước những biến động tâm lý nặng nề.

TS.BS. Lại Đức Trường, Phụ trách về quản lý, điều trị bệnh không lây nhiễm, Tổ chức Y tế thế giới phát biểu (Ảnh: Trần Minh)
3 vướng mắc cần giải quyết để vị trí việc làm tâm lý tâm lâm sàng đi vào thực tế
Chia sẻ về hành lang pháp lý cho đội ngũ này, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Nguyễn Hồng Sơn cho biết, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 và Nghị định số 96/2023/NĐ-CP của Chính phủ đã có quy định tại Điều 26 về việc thiết lập chức danh chuyên môn tâm lý.
Đặc biệt, với việc ban hành Nghị định số 232/2026/NĐ-CP của Chính phủ, vị trí việc làm "tâm lý lâm sàng" đã chính thức được xác định là một trong 12 danh mục vị trí việc làm chuyên môn trong các đơn vị sự nghiệp y tế và cơ sở bảo trợ xã hội.
Tuy nhiên, để đưa vị trí việc làm nhân viên tâm lý lâm sàng vào thực tế, ngành y tế vẫn cần giải quyết ba vướng mắc lớn.
Đầu tiên là khó khăn về cấp giấy phép hành nghề khi Nghị định 96 yêu cầu nhân sự phải được đào tạo tại các trường khối ngành sức khỏe, trong khi phần lớn thạc sĩ tâm lý lâm sàng hiện nay lại xuất thân từ các trường đại học khoa học xã hội và nhân văn. Sự lệch pha này khiến số lượng nhân sự đủ điều kiện hành nghề còn rất khiêm tốn.
Thứ hai, việc thiếu mã vị trí việc làm cùng các tiêu chuẩn chức danh đồng bộ khiến các bệnh viện lúng túng trong công tác tuyển dụng, quy hoạch và xếp lương.
Thứ ba, do chưa có mã vị trí việc làm và quy trình dịch vụ chuẩn hóa, các dịch vụ tâm lý lâm sàng rất khó hạch toán và được bảo hiểm y tế chi trả, gây ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu tài chính của các cơ sở y tế tự chủ.
Một trong những kiến nghị được nêu là cần nghiên cứu cơ chế thanh toán đối với dịch vụ tâm lý lâm sàng, bao gồm khả năng xây dựng cơ chế thanh toán bảo hiểm y tế phù hợp.
Đây được xem là yếu tố quan trọng để các cơ sở khám chữa bệnh có cơ sở tổ chức cung cấp dịch vụ, bảo đảm nguồn lực duy trì hoạt động, nhất là tại các bệnh viện thực hiện tự chủ tài chính.
Cùng với đó, báo cáo đề xuất cần xem xét chế độ, chính sách và quyền lợi của nhân viên tâm lý lâm sàng làm việc tại cơ sở y tế, trong đó có vấn đề phụ cấp nghề và lộ trình phát triển nghề nghiệp.
"Việc hoàn thiện cơ chế đãi ngộ có ý nghĩa trong thu hút, giữ chân nhân lực được đào tạo bài bản, đồng thời tạo động lực để đội ngũ nâng cao chất lượng chuyên môn"- TS. Huyền nói.
Việc xác lập rõ vị trí việc làm, chuẩn hóa khung năng lực và tháo gỡ triệt để các rào cản về hành nghề, tài chính hay chế độ phụ cấp không chỉ là bài toán riêng của ngành y tế hay khối đào tạo.
Đây là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động, giúp họ yên tâm cống hiến lâu dài. Sự đồng bộ giữa chính sách và thực tiễn sẽ là nền tảng quan trọng để đưa trị liệu tâm lý trở thành một trụ cột vững chắc, đáp ứng trọn vẹn nhu cầu chăm sóc sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần cho nhân dân.

