Tháo gỡ 'điểm nghẽn' của đơn vị kinh tế - quốc phòng là rất cần thiết

Dẫn chứng ví dụ cụ thể, chỉ huy một số đơn vị kinh tế-quốc phòng (KT-QP) đều cho rằng, Nghị định số 22/2021/NĐ-CP xuất hiện một số bất cập, ảnh hưởng đến tính chủ động, linh hoạt và hiệu quả tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển khu KT-QP, cần thay thế để bảo đảm phù hợp với các chủ trương, quy định mới. Trang 'Ý kiến chiến sĩ' nêu một số ý kiến xung quanh nội dung này.

Đại tá LÊ VĂN THẮNG, Đoàn trưởng Đoàn KT-QP 4, Quân khu 4:

Không thể chủ động mở rộng sản xuất

Qua nghiên cứu, Đoàn KT-QP 4 nhận thấy những tồn tại, bất cập được đánh giá trong hồ sơ Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 22/2021/NĐ-CP là hoàn toàn xác đáng, phản ánh đúng thực tiễn hoạt động của các đoàn KT-QP hiện nay. Nổi lên là khả năng huy động, lồng ghép các nguồn vốn đầu tư xây dựng khu KT-QP còn hạn chế; trong thực hiện các dự án, đề án có lúc còn vướng mắc do yếu tố quy hoạch; thực hiện hoạt động dịch vụ, hỗ trợ sản xuất, dịch vụ hai đầu rất khó thực hiện. Một ví dụ điển hình là thời gian qua, đơn vị đã tổ chức thử nghiệm các mô hình sản xuất, sau đó hỗ trợ giống, phân bón và chuyển giao kỹ thuật cho người dân xây dựng vùng nguyên liệu dong riềng, chè shan tuyết. Để khép kín quy trình sản xuất, nâng cao giá trị và tính bền vững của mô hình, đơn vị đã thu mua, chế biến thành sản phẩm bảo đảm chất lượng, cung cấp ra thị trường, được thị trường ưa chuộng. Tuy nhiên, đơn vị không thể mở rộng sản xuất vì không có tư cách pháp nhân. Bởi, xưởng chế biến của đơn vị không phải là doanh nghiệp, không xuất được hóa đơn, không thể cung cấp vào hệ thống phân phối... ảnh hưởng đến mở rộng vùng nguyên liệu cũng như sự phát triển kinh tế của nhân dân trên địa bàn. Trước những bất cập đó, đơn vị đã liên hệ và làm cầu nối với các đơn vị sản xuất để tiêu thụ sản phẩm cho nhân dân. Xưởng chế biến đăng ký thành mô hình hộ kinh doanh để duy trì sản xuất ở quy mô nhỏ tạo điều kiện hỗ trợ nhân dân và làm mô hình trình diễn để nhân dân tham quan, học tập và nhân rộng.

 Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 326, Quân khu 2 trao trâu giống hỗ trợ người dân xã Mường Lạn, tỉnh Sơn La. Ảnh: TRẦN HÀO

Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 326, Quân khu 2 trao trâu giống hỗ trợ người dân xã Mường Lạn, tỉnh Sơn La. Ảnh: TRẦN HÀO

Mặc dù còn nhiều khó khăn, song trong quá trình thực hiện Nghị định số 22/2021/NĐ-CP, đơn vị đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nổi bật là làm tốt công tác phối hợp với địa phương trong thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình và thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia. Đến nay, đơn vị đã hoàn thành đầu tư 21 công trình giao thông, hệ thống cấp nước sinh hoạt, thủy lợi nhỏ, trường học... bàn giao cho địa phương đưa vào quản lý, sử dụng. Thông qua thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã hỗ trợ cho 4.079 hộ gia đình con giống, vật tư để phát triển các mô hình chăn nuôi góp phần từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng địa phương, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi trên địa bàn, cùng với địa phương giảm nghèo từ 4 đến 6%/năm. Qua nghiên cứu hồ sơ Dự thảo Nghị định, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với nội dung và không có ý kiến bổ sung; kiến nghị sớm ban hành để tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thuận lợi hơn cho các đoàn KT-QP trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược.

------------

Đại tá BÙI DUY QUÂN, Đoàn trưởng Đoàn KT-QP 959, Quân khu 9:

Luôn đặt lợi ích nhân dân lên trên hết

Từ thực tế chúng tôi cho rằng, việc xây dựng Dự thảo Nghị định là hoàn toàn khách quan, chính xác và bám sát thực tiễn. Những bất cập của Nghị định số 22/2021/NĐ-CP ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình triển khai thực hiện các dự án trong nhiệm vụ xây dựng khu KT-QP. Cụ thể là làm giảm hiệu quả dòng vốn đầu tư công, khiến các công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ dân sinh bị kéo dài; gây khó khăn trong việc thu hút và giữ chân cán bộ, chiến sĩ, trí thức trẻ tình nguyện. Ngoài ra còn làm chậm tiến trình giúp dân xóa đói, giảm nghèo và ổn định định canh, định cư, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến tiến độ xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân trên tuyến biên giới. Một trong những ví dụ điển hình nhất là bất cập trong việc chồng chéo giữa quy hoạch khu KT-QP với quy hoạch các khu kinh tế cửa khẩu và khu rừng phòng hộ, rừng sản xuất của địa phương. Việc chưa có cơ chế phối hợp phân cấp rõ ràng giữa Bộ Quốc phòng và UBND cấp tỉnh tại địa bàn khiến việc xử lý mất nhiều thời gian, làm chậm tiến độ thực hiện dự án và cơ hội mở rộng sản xuất của bà con nhân dân trong khu KT-QP.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong bối cảnh hành lang pháp lý chưa hoàn chỉnh, đơn vị đã chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, thống nhất cơ chế “vướng ở đâu, tháo gỡ trực tiếp ở đó” trên tinh thần đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. Đồng thời, chủ động làm tốt công tác phối hợp với UBND cấp tỉnh, lồng ghép ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương trong xây dựng cơ sở hạ tầng và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững để tối ưu hóa nguồn lực.

Đối với Dự thảo Nghị định, chúng tôi tâm đắc nhất hai nội dung: Một là, chuẩn hóa lại chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các đoàn KT-QP. Mô hình mới tập trung mạnh vào vai trò hạt nhân trong xây dựng và phát triển kinh tế vùng biên, các đoàn KT-QP không chỉ làm nhiệm vụ ổn định dân cư, giúp người dân yên tâm bám đất, bám biên mà còn đóng vai trò như một đơn vị điều phối trung tâm giúp chuyển đổi tập quán canh tác của đồng bào trên tuyến biên giới. Không những thế, việc tổ chức hoạt động dịch vụ hai đầu thực sự là cầu nối giao thương thông qua việc cung ứng chuỗi giá trị sản xuất và mang lại chuỗi giá trị khép kín, giải quyết bài toán “được mùa mất giá” cho ngành nông nghiệp và sản xuất. Hai là, cơ chế phối hợp gắn chặt thế trận phòng thủ giữa các đoàn KT-QP với các sở, ngành, chính quyền địa phương trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng khu KT-QP. Sự thay đổi này giải quyết triệt để các nút thắt cũ, chuyển từ hỗ trợ an sinh thuần túy sang hợp tác đầu tư, phát triển kinh tế bền vững gắn liền với củng cố quốc phòng, an ninh trên tuyến biên giới, góp phần xây dựng phên giậu vững chắc của Tổ quốc.

---------------------

Đại tá ĐINH MINH KHUÊ, Đoàn trưởng Đoàn KT-QP 326, Quân khu 2:

Tăng tính chủ động của đơn vị kinh tế-quốc phòng

Đoàn KT-QP là đơn vị Quân đội, nhưng đồng thời đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ đặc thù như hỗ trợ phát triển sản xuất, ổn định dân cư, xây dựng hạ tầng và kết nối thị trường cho người dân vùng sâu, vùng xa, biên giới. Trong khi đó, cơ chế về tổ chức hoạt động, phạm vi thực hiện dịch vụ, dịch vụ hai đầu hay việc ký kết các hợp đồng phục vụ nhiệm vụ vẫn chưa được quy định rõ ràng, thống nhất. Điều này khiến nhiều hoạt động phải xin ý kiến qua nhiều cấp hoặc phối hợp với nhiều cơ quan, làm giảm tính chủ động và kéo dài thời gian triển khai. Thực tế tại đơn vị cho thấy, khi triển khai các mô hình hỗ trợ sinh kế cho người dân, chúng tôi không chỉ chuyển giao kỹ thuật mà còn phải kết nối nguồn giống, vật tư đầu vào và tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm. Tuy nhiên, do cơ chế pháp lý đối với hoạt động dịch vụ hai đầu và việc huy động, sử dụng nguồn lực chưa thật sự rõ ràng nên nhiều nội dung phải xử lý theo từng trường hợp cụ thể. Điều đó làm chậm tiến độ thực hiện, trong khi nhu cầu hỗ trợ của người dân thường mang tính thời vụ và cần sự kịp thời. Một khó khăn khác là việc lồng ghép nguồn lực giữa các chương trình của Trung ương, địa phương và nguồn lực do Bộ Quốc phòng quản lý chưa thật sự thuận lợi. Có những công trình hạ tầng hoặc mô hình phát triển sinh kế đã được thống nhất về chủ trương nhưng quá trình bố trí, phối hợp nguồn lực mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và khả năng nhân rộng mô hình.

Tuy nhiên, quan điểm của chúng tôi là khó khăn về cơ chế không thể trở thành lý do làm chậm nhiệm vụ. Những năm qua, đơn vị luôn chủ động phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo, tăng cường phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan, doanh nghiệp để tháo gỡ từng vấn đề cụ thể. Chúng tôi tập trung xây dựng các mô hình phát triển sinh kế phù hợp với điều kiện từng địa bàn, gắn chuyển giao kỹ thuật với hỗ trợ sản xuất và kết nối tiêu thụ sản phẩm; đồng thời, đẩy mạnh công tác dân vận, giúp người dân thay đổi phương thức sản xuất, ổn định đời sống và nâng cao thu nhập. Điều chúng tôi tâm đắc nhất là mô hình phối hợp đồng bộ giữa đoàn KT-QP với chính quyền địa phương và người dân. Khi các lực lượng cùng tham gia từ khâu khảo sát nhu cầu, xây dựng kế hoạch đến tổ chức thực hiện và tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả mang lại cao hơn nhiều so với việc hỗ trợ riêng lẻ từng nội dung. Qua đó, không chỉ góp phần phát triển kinh tế mà còn củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên địa bàn.

Từ thực tiễn công tác, chúng tôi mong muốn Dự thảo Nghị định tiếp tục làm rõ tính pháp lý và cơ chế hoạt động của đoàn KT-QP; quy định cụ thể hơn về hoạt động dịch vụ hai đầu, hỗ trợ sản xuất và cơ chế ký kết hợp đồng phục vụ nhiệm vụ được giao để đơn vị có đủ cơ sở pháp lý triển khai nhiệm vụ một cách chủ động, hiệu quả. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế lồng ghép nguồn lực giữa Bộ Quốc phòng với các bộ, ngành và địa phương, đổi mới cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù hoạt động của các đoàn KT-QP, cũng như có chính sách riêng đối với các khu KT-QP trên biển, đảo, biên giới và những địa bàn đặc biệt khó khăn. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để các đoàn KT-QP phát huy tốt hơn vai trò trong phát triển kinh tế-xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

---------------------------------------------------

Các đơn vị kinh tế - quốc phòng cần được gỡ vướng

Dự thảo tổng kết thực hiện Nghị định số 22/2021/NĐ-CP về khu kinh tế-quốc phòng (KT-QP) nêu rõ: Giai đoạn 2021-2025, các khu KT-QP tiếp tục được xây dựng và phát triển, góp phần cụ thể hóa chủ trương kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược, trọng yếu, biên giới, biển, đảo. Qua đó, góp phần củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng "thế trận lòng dân" và từng bước khẳng định vai trò của khu KT-QP trong tổ chức không gian chiến lược gắn với ổn định dân cư và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Việc đầu tư xây dựng hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ sản xuất, bố trí, ổn định dân cư, thực hiện công tác dân vận, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở và triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia đạt nhiều kết quả tích cực; từng bước cải thiện điều kiện dân sinh, phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống người dân tại các địa bàn khó khăn. Các đoàn KT-QP tiếp tục phát huy vai trò trung tâm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn. Một số kết quả đáng chú ý của các đơn vị KT-QP giai đoạn 2021-2025 như: Đã hoàn thành 258km đường giao thông; 46 công trình thủy lợi vừa và nhỏ; 46 công trình cấp nước sinh hoạt; sắp xếp được 272 điểm dân cư tập trung; duy trì đỡ đầu, ổn định tại chỗ cho 23.000 hộ dân; giúp địa phương xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh...

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng cho thấy một số tồn tại, vướng mắc mang tính hệ thống, chủ yếu xuất phát từ khuôn khổ pháp lý hiện hành. Cụ thể, khu KT-QP không còn được xác định là một hợp phần trong hệ thống quy hoạch, trong khi Nghị định số 22/2021/NĐ-CP vẫn tiếp cận theo mô hình gắn với quy hoạch, dẫn đến sự không tương thích với pháp luật hiện hành. Đoàn KT-QP là lực lượng trực tiếp quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ tại khu KT-QP, tuy nhiên, một số quy định hiện hành chưa làm rõ cơ chế tổ chức hoạt động, phạm vi thực hiện hoạt động dịch vụ, hỗ trợ sản xuất, dịch vụ hai đầu; cơ chế sử dụng con dấu, tài khoản, ký kết và thực hiện hợp đồng phục vụ nhiệm vụ được giao còn thiếu thống nhất, dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện. Cơ chế tài chính của khu KT-QP còn mang tính cấp phát, chưa phù hợp với đặc thù hoạt động đa chức năng, chưa cho phép linh hoạt kết hợp giữa nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp, làm hạn chế khả năng duy trì, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động. Đối với các khu KT-QP biển, đảo mới hình thành, cơ chế, chính sách chưa được thiết kế riêng, trong khi điều kiện tự nhiên, tổ chức dân cư và phương thức phát triển có sự khác biệt căn bản so với đất liền, dẫn đến hiệu quả triển khai chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Cơ chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với các bộ, ngành và địa phương trong một số trường hợp chưa thật sự chặt chẽ, đặc biệt trong việc lồng ghép nguồn lực, triển khai các chương trình mục tiêu, chương trình mục tiêu quốc gia và trong công tác tổ chức thực hiện.

Do đó, việc ban hành nghị định thay thế Nghị định số 22/2021/NĐ-CP là cần thiết nhằm khắc phục những bất cập trên; cụ thể hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, đặc biệt là yêu cầu tổ chức không gian phát triển gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân”.

ĐỨC TUẤN

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/thao-go-diem-nghen-cua-don-vi-kinh-te-quoc-phong-la-rat-can-thiet-1044226