Thực hiện cam kết quốc gia về phát triển bền vững: Cần một lộ trình kiểm toán rõ ràng
Với lộ trình triển khai phù hợp và khung tiêu chí đánh giá cụ thể, Kiểm toán nhà nước (KTNN) có thể phát huy tốt hơn vai trò trong đánh giá tiến độ thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) và phát triển bền vững (PTBV), qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, phân bổ và sử dụng nguồn lực công.

Quan cảnh cuộc họp Hội đồng nghiệm thu. Ảnh: N.LY
Sáng 09/9, Hội đồng Khoa học KTNN tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Vai trò của KTNN trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững” do ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu - KTNN chuyên ngành III làm chủ nhiệm.
GS, TS Đoàn Xuân Tiên - Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học KTNN, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, chủ trì cuộc họp. Tham dự có các thành viên Hội đồng và Ban Đề tài.

GS, TS Đoàn Xuân Tiên - Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học KTNN, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu - đánh giá cao kết quả nghiên cứu của Ban Đề tài. Ảnh: N.LY
Từng bước mở rộng phạm vi kiểm toán
BĐKH không chỉ là vấn đề môi trường mà ngày càng trở thành thách thức phát triển mang tính liên ngành, tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội và các mục tiêu PTBV.
Trước yêu cầu đó, Việt Nam đã chủ động tham gia và từng bước thực hiện nhiều cam kết quốc tế về BĐKH và PTBV, đồng thời nội địa hóa các định hướng toàn cầu thông qua việc ban hành các chính sách, chiến lược và chương trình hành động cấp quốc gia.
Theo ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu, Việt Nam đã đạt một số kết quả tích cực trong thực hiện Chương trình Nghị sự 2030, nhất là trong giảm nghèo, giáo dục, y tế và bình đẳng giới. Tuy nhiên, việc thực hiện các mục tiêu liên quan đến môi trường, khí hậu và quản lý tài nguyên vẫn còn nhiều khó khăn.
Ô nhiễm môi trường, suy giảm hệ sinh thái, khai thác tài nguyên thiếu bền vững, cùng những hạn chế trong phối hợp liên ngành, bố trí nguồn lực và giám sát thực hiện đang ảnh hưởng đến hiệu quả của nhiều chính sách, chương trình, dự án.

ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu - KTNN chuyên ngành III - cho rằng, cần chuyển trọng tâm từ kiểm tra tuân thủ sang đánh giá hiệu lực, hiệu quả, kết quả thực hiện chính sách và trách nhiệm giải trình. Ảnh: N.LY
Trên thế giới, các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI) ngày càng mở rộng vai trò từ kiểm toán chi tiêu công sang đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách về giảm phát thải, chuyển đổi năng lượng, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thực hiện các mục tiêu PTBV.
Trong xu hướng đó, KTNN Việt Nam đã chủ động triển khai các cuộc kiểm toán chuyên đề, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế, tham gia các hoạt động của INTOSAI, ASOSAI và các cơ chế hợp tác khu vực về kiểm toán môi trường và ứng phó với BĐKH.
Việc thành lập Phòng Kiểm toán môi trường từ năm 2015 là một bước đi quan trọng trong xây dựng năng lực chuyên môn cho lĩnh vực mới, khó và có tính liên ngành cao. Phạm vi, nội dung kiểm toán từng bước được mở rộng, gắn với các vấn đề môi trường, tài nguyên, BĐKH và PTBV.
Giai đoạn 2021-2025, KTNN đã thực hiện 55 cuộc kiểm toán có nội dung gắn với các mục tiêu PTBV. Cùng với đó, các kiến nghị kiểm toán có xu hướng chuyển từ xử lý sai phạm đơn lẻ sang chấn chỉnh quy trình, cải thiện quản trị, góp phần tăng cường kỷ luật tài chính, trách nhiệm giải trình và hoàn thiện hệ thống dữ liệu, cơ chế phối hợp.

Hội đồng nghiệm thu gop ý với Ban Đề tài. Ảnh: N.LY
Cần chuyển từ kiểm tra tuân thủ sang đánh giá kết quả chính sách
Bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động kiểm toán về môi trường và BĐKH vẫn còn những hạn chế. Theo ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu, nhiều cuộc kiểm toán hiện chủ yếu tập trung vào việc chấp hành pháp luật hoặc đánh giá hiệu lực, hiệu quả của từng chương trình, dự án, trong khi kiểm toán mức độ thực hiện các cam kết quốc gia về BĐKH và PTBV chưa được triển khai một cách bài bản, hệ thống và theo khung tiếp cận thống nhất.
Việc phân loại, lượng hóa và theo dõi các kiến nghị liên quan đến BĐKH và PTBV cũng chưa có một hệ thống chỉ số thống nhất. Cơ sở dữ liệu còn phân tán, phương pháp đo lường chưa đồng bộ, trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể chưa rõ ràng khiến một số kiến nghị mới dừng ở yêu cầu chấn chỉnh quy trình, hoàn thiện hồ sơ hoặc tăng cường quản lý.
Từ thực tiễn này, đề tài đề xuất chuyển trọng tâm từ kiểm tra tuân thủ sang đánh giá hiệu lực, hiệu quả, kết quả thực hiện chính sách và trách nhiệm giải trình; đồng thời hoàn thiện cơ sở pháp lý, tiêu chí và hướng dẫn nghiệp vụ kiểm toán; nâng cao chất lượng tổ chức các cuộc kiểm toán về BĐKH và PTBV; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, dữ liệu và phương pháp kiểm toán hiện đại; phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu và tăng cường phối hợp, truyền thông, hợp tác quốc tế.

TS. Lê Doãn Hoài - Phó Vụ trưởng Vụ Địa bàn I, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị cần phân biệt rõ tiêu chí/chuẩn so sánh với câu hỏi kiểm toán, chỉ số đo lường, nguồn bằng chứng và thủ tục kiểm toán.
Đề tài đề xuất lộ trình kiểm toán BĐKH và PTBV theo 3 giai đoạn: 2026-2027: Thiết lập nền tảng thể chế, phương pháp và tiêu chí kiểm toán. 2028-2030: Củng cố năng lực thực thi, dữ liệu và công nghệ. Sau năm 2030: Chuẩn hóa, tích hợp và nhân rộng.
Theo chủ nhiệm đề tài, việc xây dựng khung tiêu chí kiểm toán và tiêu chí lựa chọn chủ đề kiểm toán có ý nghĩa quan trọng, giúp KTNN lựa chọn đúng những lĩnh vực trọng yếu, rủi ro cao và có tác động lớn đến việc thực hiện các cam kết quốc gia.
Bổ sung tiêu chí, làm rõ tính khả thi của lộ trình
Đánh giá đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, các thành viên Hội đồng nghiệm thu cho rằng nghiên cứu đã bước đầu làm rõ vai trò của KTNN trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với BĐKH và PTBV.
Đề tài đã phân tích cơ sở pháp lý, phương pháp tiếp cận, dữ liệu và bằng chứng, nhân lực chuyên sâu, cơ chế chia sẻ thông tin; đồng thời đề xuất 5 nhóm giải pháp, lộ trình 3 giai đoạn, khung tiêu chí, danh mục dữ liệu và chương trình đào tạo phù hợp với định hướng phát triển của KTNN.
Một điểm đáng ghi nhận là đề tài kết hợp nghiên cứu định tính với phương pháp định lượng thông qua khảo sát các nhóm đối tượng liên quan và ứng dụng mô hình PLS-SEM để kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố phản ánh vai trò của KTNN. Qua đó, nghiên cứu cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm cho các nhận định, đánh giá.
TS. Lê Doãn Hoài - Phó Vụ trưởng Vụ Địa bàn I, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Phản biện 1 - đề nghị, Ban Đề tài làm rõ hơn tính khả thi của lộ trình, nhất là về đơn vị đầu mối, sản phẩm chủ yếu và điều kiện chuyển tiếp giữa các giai đoạn. Đối với khung tiêu chí kiểm toán, cần phân biệt rõ tiêu chí/chuẩn so sánh với câu hỏi kiểm toán, chỉ số đo lường, nguồn bằng chứng và thủ tục kiểm toán, qua đó tăng tính khả thi khi áp dụng vào thực tiễn.

ThS. Đinh Trọng Khang - Quyền Giám đốc Viện chuyên ngành Môi trường, Viện Khoa học, công nghệ giao thông vận tải, Bộ Xây dựng - đề nghị bổ sung một số tiêu chí đánh giá.
ThS. Đinh Trọng Khang - Quyền Giám đốc Viện chuyên ngành Môi trường, Viện Khoa học, công nghệ giao thông vận tải, Bộ Xây dựng - đề nghị, bổ sung các tiêu chí về cơ chế điều phối, đánh giá tác động chéo của rủi ro BĐKH giữa các ngành, lĩnh vực; mức độ phù hợp của các dự án, chính sách thích ứng với quy hoạch vùng sinh thái, lưu vực sông; mức độ ưu tiên và hiệu quả của các giải pháp thích ứng dựa vào hệ sinh thái và cộng đồng.
Kết luận cuộc họp, GS, TS Đoàn Xuân Tiên đề nghị Ban Đề tài ưu tiên các nhóm giải pháp theo mức độ khả thi và thứ tự thực hiện, đồng thời làm rõ giải pháp nào thuộc thẩm quyền của KTNN và giải pháp nào cần kiến nghị Quốc hội, Chính phủ.
Chủ tịch Hội đồng cũng đề nghị làm rõ hơn giá trị mới của đề tài so với các nghiên cứu về kiểm toán môi trường trước đây của KTNN, đặc biệt là đóng góp cụ thể đối với việc xây dựng lộ trình kiểm toán BĐKH đến năm 2030.
Ban Đề tài tiếp thu tối đa các ý kiến của Hội đồng, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện đề tài theo quy định.
Hội đồng nghiệm thu thống nhất xếp loại Đề tài Xuất sắc.
