Thực thi Nghị quyết 80-NQ/TƯ về văn hóa: Nhìn từ câu chuyện 'đi tìm' trang phục cho người Chứt

Theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, phát triển văn hóa nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng đang được đề cao. Nhưng bên cạnh những 'bề nổi' của các chiều cạnh văn hóa, cần hiểu rằng khi đánh giá một nền văn hóa hay công nghiệp văn hóa không nằm ở việc bán được nhiều vé các concert ca nhạc hay một bộ phim đình đám… mà nằm ở niềm tự hào về văn hóa, con người, lịch sử Việt.

Bởi cái gốc đó chính là thông điệp để người Việt nhìn nhận chính mình và bước ra với thế giới. Vấn đề kịp thời bảo tồn và phát huy nét riêng của trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số nước ta cũng không nằm ngoài sự nhìn nhận này.

Người Chứt và ước mơ về trang phục của riêng dân tộc mình

Người Chứt là một trong những dân tộc có dân số ít dưới 10.000 người, cư trú chủ yếu tại vùng núi đá vôi ở phía tây tỉnh Quảng Bình cũ (nay là Quảng Trị) và một phần miền núi tỉnh Hà Tĩnh. Người Chứt có 5 tộc người, bao gồm Sách, Mày, Mã Liềng, Rục và A Rem. Giữa các nhóm tộc người địa phương có những nét tương đồng và sự giao thoa văn hóa với các tộc người bên ngoài.

Trong quá trình sinh tồn, nhiều yếu tố văn hóa của người Chứt đã bị mai một, trong đó có trang phục. Trang phục người Chứt thường sử dụng bao gồm: áo, khố được làm từ vỏ cây rừng, lá rừng, hoặc một số da động vật. Sau này, người Chứt sử dụng các loại trang phục bằng vải từ các tộc người cận cư. Trong sinh hoạt cộng đồng, người Chứt sử dụng trang phục truyền thống của một số tộc người thiểu số khác. Có thể nói, người Chứt là thành phần duy nhất trong 54 dân tộc Việt Nam chưa có trang phục mang bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Do đó, người Chứt mong muốn có được một bộ trang phục riêng như bao dân tộc anh em khác.

Tọa đàm “Ứng dụng kết quả nghiên cứu dân tộc học - nhân học vào thực tiễn: Câu chuyện trang phục dân tộc Chứt ở Quảng Trị” tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ngày 11/4/2026. (Ảnh trong bài: PV)

“Từ nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của cộng đồng, năm 2024, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) đề nghị Viện Dân tộc học (nay là Viện Dân tộc học và Tôn giáo học) chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học: “Nghiên cứu thực trạng, nhu cầu và định hình trang phục sinh hoạt cộng đồng của dân tộc Chứt ở tỉnh Quảng Bình”.

Sau quá trình khảo sát, tham vấn và đồng sáng tạo với người dân thuộc 5 nhóm địa phương (Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liềng), mẫu trang phục sinh hoạt cộng đồng đã được định hình. Bộ trang phục không chỉ đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ mà còn hàm chứa các biểu tượng văn hóa đặc trưng, phản ánh mối quan hệ giữa con người với môi trường sinh tồn”, TS Bùi Thị Bích Lan - Phó Viện trưởng Viện Dân tộc học và Tôn giáo học cho biết tại Tọa đàm “Ứng dụng kết quả nghiên cứu dân tộc học - nhân học vào thực tiễn: Câu chuyện trang phục dân tộc Chứt ở Quảng Trị” diễn ra trong khuôn khổ Lễ khai mạc Trưng bày “Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam: Không gian bảo tồn văn hóa và lan tỏa tri thức khoa học xã hội” diễn ra tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ngày 11/4/2026.

Đến nay sau quá trình dài nghiên cứu, khảo sát, tham vấn và đồng sáng tạo trang phục với người dân của các nhà nghiên cứu, thiết kế, người Chứt đã có trang phục của riêng mình và Trưng bày “Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam: Không gian bảo tồn văn hóa và lan tỏa tri thức khoa học xã hội” tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam kéo dài đến ngày 15/5/2026 đang giới thiệu hai bộ trang phục mới của người Chứt.

Bảo tồn trang phục truyền thống để khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc

Từ câu chuyện “đi tìm” trang phục của người Chứt, nếu nhìn rộng ra, có thể thấy không riêng gì người Chứt mà nhiều dân tộc thiểu số (DTTS) nước ta trang phục đã và đang biến dạng, mất gốc, thậm chí được thay đổi bằng các trang phục mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, vấn đề đặt ra là nếu không kịp thời bảo tồn và phát huy, nét riêng của nhiều DTTS sẽ mất đi, kéo theo bản sắc văn hóa của cả đất nước

Báo cáo khảo sát của nhiều tỉnh cho thấy, tỷ lệ sử dụng trang phục truyền thống các DTTS hiện nay rất thấp. Cụ thể, tại tỉnh Thái Nguyên cũ (trước khi sáp nhập với Bắc Kạn), người Tày, Mông, Sán Chay, Sán Dìu 10%, người Nùng 5%; tại tỉnh Nghệ An, người Thái 30%, người Thổ và Khơ Mú là 15%, người Mông 10% và người Ơ Đu đã mất trang phục truyền thống; tại tỉnh Gia Lai cũ (trước khi sáp nhập với Bình Định), người Jrai 10%, người Ba Na 15%; tại tỉnh Vĩnh Long cũ (trước khi sáp nhập với Bến Tre, Trà Vinh) người Khmer và người Hoa tỷ lệ còn trang phục truyền thống là 25%...

Việc ít sử dụng trang phục truyền thống kéo theo nhiều dân tộc đã bỏ hẳn việc trồng các loại nguyên liệu dệt truyền thống để dệt vải. Việc sử dụng nguyên liệu nhuộm màu truyền thống cũng có nhiều thay đổi, màu công nghiệp thay thế phương thức nhuộm màu truyền thống. Những sự thay đổi căn bản này đã khiến các trang phục DTTS không còn nguyên gốc, đặc biệt là các họa tiết, hoa văn trang trí không còn độ tinh xảo.

Vai trò của địa phương quan trọng trong bảo tồn văn hóa, trang phục truyền thống

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 3399/QĐ-BVHTTDL phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035 và ban hành các Thông tư liên quan đến định mức và nội dung triển khai Chương trình.

Điểm đáng chú ý trong triển khai Chương trình là nguyên tắc phân cấp mạnh mẽ cho địa phương theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Do đó hơn lúc nào hết, vấn đề bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các DTTS Việt Nam có sự đóng góp rất lớn từ chính quyền địa phương nơi có các dân tộc sinh sống. Câu chuyện trang phục của người Chứt là một ví dụ, để hôm nay người Chứt có được bộ trang phục truyền thống của riêng mình, xuất phát từ nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của tộc người trên địa bàn, năm 2024, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) đã đề nghị Viện Dân tộc học (nay là Viện Dân tộc học và Tôn giáo học) chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học: “Nghiên cứu thực trạng, nhu cầu và định hình trang phục sinh hoạt cộng đồng của dân tộc Chứt ở tỉnh Quảng Bình”.

Trước nguy cơ biến mất của trang phục truyền thống một số dân tộc ít người, ngày 18/1/2019, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 209 về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các DTTS Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”. Trong 12 năm triển khai (2019 - 2030), đề án hướng tới việc đưa trang phục truyền thống phổ biến hơn trong cuộc sống của đồng bào các DTTS, nâng cao lòng tự hào, ý thức bảo tồn và phát huy trang phục truyền thống các dân tộc.

Thực tiễn về sử dụng trang phục truyền thống của các dân tộc hiện nay cho thấy, trang phục truyền thống bên cạnh việc “bảo tồn tĩnh” trong bảo tàng cần được “bảo tồn động” trong đời sống của chính cộng đồng dân tộc đó, lấy bảo tồn, phát huy trong đời sống của đồng bào các dân tộc làm mục tiêu chính.

Quay trở lại với câu chuyện trang phục của người Chứt, từ ngày 22 - 26/3, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) cùng đối tác Craft Link thực hiện chuyến khảo sát tại một số cộng đồng dân tộc Chứt trong khuôn khổ “Dự án về tập huấn, đào tạo kỹ năng may trang phục sinh hoạt cộng đồng cho người Chứt tại tỉnh Quảng Trị”.

Tại buổi làm việc ngày 23/3 giữa Đoàn công tác UNESCO và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, TS Bùi Thị Bích Lan nhấn mạnh, khảo sát lần này góp phần khẳng định việc ưu tiên hỗ trợ các tộc người có quy mô dân số ít, đang đứng trước nguy cơ mai một bản sắc thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ sự đa dạng văn hóa và bảo đảm quyền bình đẳng về văn hóa giữa các dân tộc - một nguyên tắc nhất quán trong chính sách dân tộc ở Việt Nam. Đáng chú ý, các chủ trương này không chỉ dừng lại ở định hướng vĩ mô mà đã được cụ thể hóa bằng những chương trình, dự án cụ thể, gắn với nhu cầu thực tiễn của cộng đồng, lấy người dân làm trung tâm và là chủ thể của quá trình bảo tồn.

Văn hóa được nuôi dưỡng từ niềm tự hào thì mới tồn tại và phát triển bền vững

Tại buổi tiếp các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu toàn quốc nhân Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh, giữ gìn văn hóa các dân tộc không chỉ là bảo tồn di sản, mà còn là giữ gìn nền tảng tinh thần của xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nên sức mạnh nội sinh cho phát triển đất nước một cách bền vững. Đối với vùng đồng bào DTTS, yêu cầu đặt ra là phát triển hài hòa giữa nâng cao đời sống và giữ gìn bản sắc; giữa hội nhập và tự chủ văn hóa; cần đặc biệt coi trọng vai trò chủ thể của cộng đồng, bởi chính người dân là chủ thể gìn giữ, thực hành và trao truyền các giá trị văn hóa. Chỉ khi văn hóa được nuôi dưỡng từ ý thức tự giác và niềm tự hào của mỗi người, thì mới có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững.

Hồng Minh

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/thuc-thi-nghi-quyet-80-nq-tu-ve-van-hoa-nhin-tu-cau-chuyen-di-tim-trang-phuc-cho-nguoi-chut.html