Thuế quan cao, xung đột Trung Đông: Logistics, dệt may, phân bón và cao su ứng phó ra sao?

Xung đột Trung Đông đẩy giá dầu và cước vận tải tăng, trong khi Mỹ siết thuế quan. Điều này buộc doanh nghiệp logistics, dệt may, phân bón và cao su đẩy nhanh tái cấu trúc để giữ biên lợi nhuận và tìm cơ hội trong rủi ro.

Trong động thái mới nhất trước bối cảnh chiến sự Trung Đông leo thang những ngày gần đây, Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) đang triển khai khảo sát nhanh về mức độ tác động của xung đột ở khu vực này đối với doanh nghiệp (DN) logistics tại Việt Nam.

Lường trước khó khăn phát sinh

Theo đó, cuộc khảo sát tập trung thu thập ý kiến từ các DN logistic (ghi nhận thông tin trước ngày 9/3/2026) về tình hình hoạt động, những khó khăn phát sinh cũng như các đề xuất, kiến nghị trong bối cảnh thị trường vận tải quốc tế có nhiều biến động.

Đang có một cuộc khảo sát nhanh về mức độ tác động của xung đột Trung Đông đối với doanh nghiệp logistics tại Việt Nam.

Đang có một cuộc khảo sát nhanh về mức độ tác động của xung đột Trung Đông đối với doanh nghiệp logistics tại Việt Nam.

Cụ thể là khảo sát mức độ theo dõi và nắm bắt thông tin về tình hình xung đột tại Trung Đông, đánh giá mức độ ảnh hưởng đến hoạt động của DN. Cùng với đó là các tác động cụ thể như chi phí cước vận tải tăng, thời gian vận chuyển kéo dài, khó khăn trong việc đặt chỗ hoặc thiếu hụt container, những rủi ro về dòng tiền, hợp đồng và khả năng tìm kiếm tuyến vận tải thay thế.

Ngoài ra, cuộc khảo sát còn ghi nhận các giải pháp ứng phó mà DN đang triển khai. Chẳng hạn điều chỉnh tuyến vận tải, chuyển đổi phương thức vận chuyển, xây dựng kế hoạch dự phòng hoặc tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động giao nhận.

Như chia sẻ của ông Nguyễn Đức Bình, Tổng Thư ký chuyên trách của VLA, việc thu thập thông tin từ DN trong giai đoạn này sẽ giúp VLA có cơ sở dữ liệu thực tế để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các biến động địa chính trị đối với ngành logistics Việt Nam.

“Thông qua khảo sát, Hiệp hội sẽ tổng hợp các ý kiến, đề xuất của DN để báo cáo và kiến nghị với Chính phủ cùng các cơ quan quản lý nhà nước về những giải pháp hỗ trợ cần thiết”, ông Bình cho biết.

Xét về tác động của xung đột tại Trung Đông với ngành logistics Việt, trong nhận định mới nhất từ Bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán VnDirect, cho rằng các DN vận tải biển của Việt Nam phần lớn chạy tuyến Xuyên Á (intra-Asia) và ít có những chặng chạy trực tiếp đến khu vực chiến sự. Do vậy trong bối cảnh giá cước vận tải gia tăng, các DN vận tải biển được hưởng lợi nhờ giá cước tăng toàn cầu.

Riêng với lĩnh vực cảng biển, theo VnDirect, nhóm này ít chịu ảnh hưởng bởi lưu lượng hàng hóa nhìn chung không chịu ảnh hưởng từ chiến sự.

Còn theo Bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán VCBS, nhóm ngành vận tải container sẽ hưởng lợi từ sự đứt gãy chuỗi cung ứng do xung đột tại Trung Đông. Khi các hãng tàu quốc tế thiếu tàu do phải đi vòng hoặc kẹt tại các Hub (trung tâm trung chuyển), năng lực cung ứng hàng hóa giảm mạnh. Các tuyến vận tải bị xáo trộn gây tắc nghẽn tại các cảng, tăng thời gian tàu neo đậu và giảm cung hiệu dụng. Hệ quả sẽ khiến giá cước thuê định hạn tàu container bật tăng.

Trong khi đó, với ngành dệt may Việt, mối quan tâm hiện tại của các DN là tác động trước xung đột Trung Đông và diễn biến mới về thuế quan ở Mỹ (cụ thể là hàng dệt may xuất khẩu vào Mỹ ngoài thuế MFN hiện hành còn chịu thêm 10% thuế tạm thời, trong khi đó kịch bản tăng mức thuế bổ sung lên 15% vẫn để ngỏ).

Giới chuyên gia có lời khuyên cho các DN dệt may trong thời gian tới cần ưu tiên năng lực “giữ nhịp” trong bất định: linh hoạt tài chính, quản trị rủi ro tỷ giá – nguyên liệu, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và nâng cấp giá trị gia tăng.

Nhất là trong bối cảnh thuế quan cao trở thành “bình thường mới”, lợi thế sẽ thuộc về những DN dệt may nào biết kiểm soát tốt chi phí, đảm bảo tuân thủ xuất xứ và giao hàng nhanh.

Tìm cơ trong nguy

Tại một hội thảo nội bộ của Tập đoàn Dệt may (Vinatex) bàn về thị trường tháng 3/2026, ông Lê Tiến Trường, Chủ tịch HĐQT Vinatex, nhấn mạnh bối cảnh thị trường năm 2026 tiếp tục tiềm ẩn nhiều biến động về thuế quan, địa chính trị và chi phí logistics, đòi hỏi toàn hệ thống phải chủ động, linh hoạt và xây dựng các chương trình hành động cụ thể với những kịch bản dự báo.

Như với thị trường Mỹ, ông Trường lưu ý các DN thành viên cần lường trước xu hướng khách hàng tiếp tục yêu cầu điều chỉnh giá. các đơn vị tăng cường thực hiện sớm các đơn hàng đi Mỹ, tận dụng giai đoạn thuế quan bổ sung 10% có hiệu lực trong 150 ngày để tối ưu kế hoạch giao hàng, hạn chế rủi ro khi chính sách có thể thay đổi theo hướng bất lợi hơn.

Với thị trường EU, ông Trường yêu cầu các đơn vị thành viên chuẩn bị các phương án giao hàng phù hợp trong điều kiện tuyến vận tải có thể thay đổi, chi phí logistics gia tăng và thời gian vận chuyển kéo dài.

“DN cần tính toán lại nhu cầu sử dụng nguyên liệu, cơ cấu giá, tiến độ sản xuất, chủ động đẩy nhanh nhịp độ để bù đắp thời gian vận tải, hạn chế tối đa rủi ro giao hàng chậm và phát sinh chi phí”, ông Trường nêu rõ.

Ngoài hai ngành nêu trên, trong đánh giá tác động với Việt Nam từ xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran, Bộ phận phân tích của VCBS cho rằng vẫn có những ảnh hưởng tích cực đến một số ngành như cao su, phân bón.

Cụ thể, với ngành cao su. Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông leo thang kéo giá dầu tăng cao, qua đó dấy lên lo ngại chi phí sản xuất cao su tổng hợp (nguồn cung thay thế cao su tự nhiên) sẽ gia tăng, điều này thể hiện ở việc giá cao su thế giới đã tăng đáng kể và tiệm cận mức 2.000 USD/tấn tuần qua. Do đó, kỳ vọng biên lợi nhuận các DN cao su sẽ được mở rộng đáng kể trong thời gian tới.

Riêng với ngành phân bón, khu vực Trung đông chiếm khoảng 20–25% tổng xuất khẩu ure toàn cầu, 30–35% xuất khẩu ammonia toàn cầu và khoảng 10–15% xuất khẩu DAP, MAP toàn cầu. Do đó bất kỳ rủi ro nào làm gián đoạn tuyến vận tải qua Hormuz đều có thể làm gián đoạn 15– 20% nguồn cung phân bón thương mại toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, như phân tích của VCBS, nếu giá khí đầu vào tại Việt Nam chưa điều chỉnh tương ứng với mức tăng của thị trường quốc tế, các DN sản xuất ure sử dụng khí nội địa như DCM và DPM có thể cải thiện biên lợi nhuận nhờ chênh lệch giữa giá bán xuất khẩu và chi phí nguyên liệu. Đồng thời, do nguồn khí đầu vào được cung ứng trong nước, nhóm này ít chịu rủi ro gián đoạn vật lý về nguồn cung, mà chủ yếu chịu tác động qua biến động giá.

Thực ra, trong bối cảnh thế giới nhiều bất định, như trước diễn biến thuế quan mới ở Mỹ hay xung đột tại Trung Đông leo thang, việc tìm cơ trong nguy là điều cần làm với DN Việt ở các nhóm ngành kể trên. Khả năng dự báo sớm rủi ro, chuẩn bị kịch bản linh hoạt và tăng tốc chuyển đổi sẽ quyết định vị thế. Lợi thế sẽ thuộc về những DN nào biết chủ động tái cấu trúc, kiểm soát rủi ro và nâng cấp giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thế Vinh

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/thue-quan-cao-xung-dot-trung-dong-logistics-det-may-phan-bon-va-cao-su-ung-pho-ra-sao.html