Thương cảng Hội An, khi lịch sử gọi tên

Lịch sử đã gọi tên Hội An và vùng đất mở này cho thấy hoàn toàn xứng hợp để được lựa chọn trở thành đô thị thương cảng. Vùng đất mở ấy cũng đang gửi thông điệp cho tương lai...

Tàu thuyền trên sông Hoài, phố cổ Hội An ngày nay. ẢNH: THUẬN TRIỀU

Tàu thuyền trên sông Hoài, phố cổ Hội An ngày nay. ẢNH: THUẬN TRIỀU

Gợi chuyện “sáp nhập” hơn 4 thế kỷ trước

Năm 1602, chúa Tiên Nguyễn Hoàng lập dinh Quảng Nam và giao cho công tử thứ 6 Nguyễn Phúc Nguyên (sau này là chúa Sãi) làm trấn thủ. Hội An, cách dinh trấn Thanh Chiêm vài cây số, cũng bắt đầu viết những trang sử thương cảng.

“Hội An trở nên thương cảng mậu dịch với ngoại quốc và nơi đô hội buôn bán lớn nhất của Thuận Quảng bắt đầu từ đó”, giáo sư Phan Khoang nhận xét khi bàn về chuyện giao thương giữa xứ Đàng Trong với các xứ Đông Á và Âu châu (Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558-1777, Nhà sách Khai Trí 1969).

Hội An “được chiếm địa vị ấy” (chữ của giáo sư Phan Khoang) vì Quảng Nam là trấn giàu nhất trong xứ, sản xuất phần nhiều sản vật quý, dễ tập hợp những sản vật mà thuyền buôn ngoại quốc cần dùng. Nhưng chỉ dừng ở đó thôi, vẫn chưa đủ làm nên một thương cảng sầm uất, mà còn cần đến tầm nhìn quản lý.

Hai năm sau, 1604, chúa Tiên Nguyễn Hoàng cải tổ hành chánh Đàng Trong, tách huyện Điện Bàn ra khỏi phủ Triệu Phong của xứ Thuận Hóa để thành phủ Điện Bàn, quản 5 huyện. Phủ Điện Bàn lại sáp nhập với 3 phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn để thành lập dinh Quảng Nam...

Theo nhà nghiên cứu Võ Văn Dật, trước đó, vùng này trên giấy tờ thuộc Thuận Hóa nhưng người ngoại quốc chỉ giao dịch với quan trấn thủ ở dinh trấn Thanh Chiêm “mà ít khi nói chuyện với nhà chức trách ở bên kia đèo Hải Vân”. Sau khi sáp nhập, “tình trạng nghịch thường” đó được cởi bỏ.

“Sự cải tổ này, ngoài việc mang lại sự hợp lý về các phương diện địa dư, nhân văn, hành chánh, an ninh, còn có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế. Thật vậy, Quảng Nam là vùng đất trù phú nhất của Đàng Trong lúc bấy giờ, mà Hội An là địa điểm mậu dịch quan trọng về nội cũng như ngoại thương. Dựng dinh trấn thủ gần Hội An, cho con trai tài ba nhất vào trông coi, sáp nhập Điện Bàn vào Quảng Nam, là những dấu hiệu cho thấy sự quan tâm của nhà cầm quyền, tạo cho mọi người một niềm tin vững chắc về an ninh và phồn thịnh, yếu tố cơ bản của sự phát triển kinh tế”, nhà nghiên cứu Võ Văn Dật viết (Lịch sử Đà Nẵng 1306-1975, NXB Hồng Đức 2019, trang 57-58).

Gần 20 năm sau ngày dinh Quảng Nam được mở, giáo sĩ người Ý C. Borri đến Đàng Trong và cảm nhận người xứ này “không bao giờ tỏ ra sợ một nước nào trên thế giới”.

“Chúa Đàng Trong không đóng cửa trước một quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc, người Hà Lan cũng tới như những người khác, cùng với tàu chở rất nhiều hàng hóa của họ”, C. Borri viết trong “Xứ Đàng Trong năm 1621”.

Hình ảnh tàu thuyền trong hoạt cảnh "Ký ức Hội An" bên sông Hoài. ẢNH: THUẬN TRIỀU

Hình ảnh tàu thuyền trong hoạt cảnh "Ký ức Hội An" bên sông Hoài. ẢNH: THUẬN TRIỀU

“Muốn thiên hạ đến doanh thương”

Thương cảng Hội An ngày càng nhộn nhịp, phố người Nhật và phố người Hoa được dựng nên, các thương điếm được xây cất. Số liệu do vị mại biện người Anh Bowyear ghi nhận năm 1695 cho thấy “mỗi năm có độ 10-12 chiếc thuyền từ Nhật, Quảng Đông, Tiêm La, Cao Miên và Batavia đến”.

Cũng trong năm ấy, khi có mặt tại Hội An, hòa thượng Trung Hoa Thích Đại Sán dẫn lời chia sẻ của chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu rằng “các năm trước, thuyền ngoại dương đến buôn một năm chừng 5-6 chiếc, năm nay số ấy lên đến 16-17 chiếc, nhờ đó trong nước tiêu dùng được dư dả” (Hải ngoại kỷ sự).

Batavia (mà Bowyear nhắc tên) từng hiện diện trong thư từ giao tiếp của chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan trước đó.

“Ta rất mong muốn thiên hạ đến doanh thương trong các hải cảng của ta. Nếu đức vua không trách ta, thì xin cho người đến buôn bán trong nước ta, ta rất được đẹp lòng, cũng như đối với các nước khác vậy”, thư của chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan gửi Toàn quyền Batavia nhân có tàu Le Grol (Hà Lan) ghé Tourane. Đoạn thư này được giáo sư Phan Khoang ghi chú là “trích trong Dagh, Register, 1637, của Công ty Đông Ấn Hà Lan”.

Sở hữu vị trí địa lý đắc địa nên thương cảng mậu dịch mới gọi tên Hội An. Có sông Cổ Cò - Lộ Cảnh giang nối thông cửa Hàn với cửa Đại. Có đầm Trà Quế gắn với sông Cổ Cò (được xem là “Vũng Tàu Bắc”), đầm Trà Nhiêu gắn với dòng Trường Giang, hệ Thu Bồn (được xem là “Vũng Tàu Nam”). Lại có Cù Lao Chàm như một “trấn sơn” của Cửa Đại, là hoa tiêu, điểm dừng chân của các thương thuyền trên con đường hàng hải...

Tập trung các tuyến giao thương chủ đạo trên biển, thu hút những đặc sản có giá trị trên trường quốc tế, Hội An cũng có sức hút riêng vì là nơi tập kết những sản vật quý.

Dưới góc độ chính trị, trong giao thương với ngoại quốc, từ thời Tiền Lê, Lý, Trần... triều đình cũng chỉ cho phép người nước ngoài tụ tập tại “bạc dịch trường”, cấm đến kinh đô vì sợ họ giả mạo thương nhân để do thám. Những “bạc dịch trường” như thế từng lập ở Vân Đồn, phố Hiến. Thời Chúa Nguyễn, Hội An cũng cách xa kinh đô Phú Xuân, nên được chọn.

Từ thế kỷ thứ 1 và 2 trước Công nguyên, Hội An đã là cảng thị sơ khai có sức hấp dẫn nhất định đối với thương nhân vùng Nam Á. Từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ 14 sau Công nguyên, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Chí Trung, qua di tích khảo cổ và tư liệu thư tịch của Ba Tư, Ả Rập, Trung Quốc..., khu vực Hội An đóng vai trò quan trọng bậc nhất của Vương quốc Champa, quan hệ thương mại mở rộng với cả thế giới Ba Tư - Ả Rập.

Thời Nguyễn, thương cảng Hội An sôi động hơn, kéo dài suốt gần 3 thế kỷ. “Có thể nói, Hội An đã trở thành một địa thế lý tưởng cho quan hệ thương mại Đông - Tây, và đây cũng là giai đoạn cực thịnh của đô thị thương cảng quốc tế này”, nhà nghiên cứu Nguyễn Chí Trung viết (Cư dân Faifo - Hội An trong lịch sử, NXB Đà Nẵng 2010, trang 30).

Hội An đã hoàn tất sứ mệnh của đô thị thương cảng. Giờ đây, khi Dinh trấn Thanh Chiêm được mở hội thảo khoa học tham vấn giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích (hồi tháng 1/2026), khi “con đường nước” Cổ Cò bàn chuyện khơi thông đã nhiều năm nay, thì đô thị thương cảng Hội An không chỉ dừng ở quầng hồi quang của quá khứ.

Diện mạo ấy phải được phác thảo, sứ mệnh ấy cần được vinh danh.

THUẬN TRIỀU

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/thuong-cang-hoi-an-khi-lich-su-goi-ten-3348298.html