Tín chỉ carbon: từ 'phòng thí nghiệm sống' đến trung tâm tài chính quốc tế
Bối cảnh Việt Nam nỗ lực thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050 đưa câu chuyện về thị trường tín chỉ carbon, tài chính xanh trở nên đáng quan tâm hơn bao giờ hết.

Trên thị trường carbon tự nguyện, doanh nghiệp gây ô nhiễm có thể mua các tín chỉ bù đắp carbon được tạo ra từ các dự án giúp giảm hoặc loại bỏ carbon bao gồm các dự án năng lượng tái tạo như điện gió. Ảnh: Carbon News
KTSG có cuộc trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân - Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn (ICED), Đại học Quốc gia TPHCM - xoay quanh những khái niệm cốt lõi, cơ hội cho doanh nghiệp và mô hình thí điểm “Living Lab” tại Đại học Quốc gia TPHCM.
Đầu tư công là tiên quyết
KTSG: Hiện nay các khái niệm như “tín chỉ carbon”, rồi “thị trường carbon” hay “sàn giao dịch carbon” được nhắc đến nhiều trên các phương tiện truyền thông. Nhưng nhiều người, thậm chí cả nhà quản lý, vẫn còn khá mơ hồ. Ông có thể giải thích để độc giả có một cái nhìn căn bản nhất?

- Ông Nguyễn Hồng Quân: Chúng ta hình dung rằng trong quá trình phát triển của thế giới và Việt Nam, việc giảm rác thải, khí nhà kính đang là một yêu cầu hết sức bức thiết. Một trong những thông số liên quan tới khí nhà kính là chỉ số về phát thải carbon.
Tùy theo từng quốc gia, họ sẽ có quy định mỗi doanh nghiệp được phát thải bao nhiêu. Ví dụ, Việt Nam đã có quy định về kiểm kê khí nhà kính. Ở mức độ nhất định, doanh nghiệp phát thải trên bao nhiêu tấn carbon một năm thì phải kiểm kê và có giải pháp giảm phát thải.
Vậy tín chỉ carbon là gì? Theo quy định hiện nay, nếu chúng ta giảm được một tấn CO2, tương đương với việc chúng ta có một tín chỉ carbon. Hiện có hai quy định bắt buộc và tự nguyện. Với quy định bắt buộc, doanh nghiệp bị áp hạn ngạch phát thải nhưng họ không đủ sức chuyển đổi công nghệ ngay để có thể giảm thải theo yêu cầu, thì phải mua tín chỉ carbon từ những đơn vị khác - những nơi dư lượng giảm thải - để bù đắp vào tình trạng thiếu hụt lượng giảm thải đó.
Còn đối với tự nguyện, doanh nghiệp dù không bị bắt buộc nhưng muốn đóng góp vào chương trình phát triển bền vững hoặc gắn với định hướng ESG của đơn vị mình, họ có thể chủ động mua thêm tín chỉ. Tín chỉ này có thể giao dịch thông qua thị trường carbon tự nguyện hoặc bắt buộc.
Xin nói thêm, ESG là viết tắt của Environmental (môi trường), Social (xã hội) và Governance (quản trị doanh nghiệp). Đây là bộ ba tiêu chuẩn dùng để đo lường tính bền vững, mức độ tác động của doanh nghiệp đến cộng đồng và các yếu tố phi tài chính, thay vì chỉ tập trung vào lợi nhuận ngắn hạn. ESG giúp đánh giá rủi ro, cơ hội và uy tín của doanh nghiệp.
KTSG: Vậy thị trường này vận hành như các phương thức trao đổi, giao thương “hàng hóa” khác? Người mua và người bán có thể là doanh nghiệp với nhau hoặc ở cấp độ các quốc gia không thưa ông?
- Tín chỉ carbon có thể được mua bán giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, và giữa các quốc gia với nhau. Ở tầm quốc gia, ví dụ chính phủ một số quốc gia như Thụy Sỹ, Nhật Bản có cam kết với thế giới về giảm carbon, họ có thể thông qua các tổ chức để mua tín chỉ cho chính phủ. Khi đó, đại diện các bộ ngành, chẳng hạn Bộ Nông nghiệp và Môi trường của ta, sẽ phối hợp tiến hành các bước đi, thủ tục. Trước đây Việt Nam từng bán tín chỉ rừng khu vực Bắc Trung bộ thông qua Ngân hàng Thế giới.
Ở tầm doanh nghiệp, họ vẫn có thể mua bán với các doanh nghiệp trong nước và quốc tế thông qua thị trường tín chỉ carbon. Một số doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đã bán trên thị trường tín chỉ carbon toàn cầu rồi. Ví dụ các doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Nhưng hiện chúng ta chưa có thống kê, đánh giá đầy đủ về việc này nên tôi nghĩ đây cũng là một “khe hở” cần lưu ý.
KTSG: Liệu cũng sẽ có tình trạng đầu cơ hay có ý kiến cho rằng sẽ xuất hiện mô hình “ngân hàng carbon” để đầu tư, tích trữ hàng hóa là tín chỉ này? Quan điểm của ông thế nào?
- Thật sự tôi cũng không hình dung lắm về khái niệm “ngân hàng”. Tuy nhiên việc đầu tư hoặc đầu cơ tín chỉ carbon cũng có thể phù hợp. Để khuyến khích phát triển thị trường thì phải có người mua, người bán. Nhiều khi doanh nghiệp có tín chỉ là bên bán nhưng lại không có người mua, hoặc năng lực bán ra thị trường quốc tế hạn chế do thủ tục kiểm kê, đo lường phức tạp... Khi đó, các nhà đầu tư tư nhân hoặc thậm chí chính phủ có thể đứng ra đầu tư, mua lại để hỗ trợ.
Việc đầu tư này giúp chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp, thúc đẩy họ chuyển đổi xanh. Tín chỉ mua xong có thể “để dành”. Chúng ta có thể dùng nó cho NDC - là cam kết quốc gia theo Thỏa thuận Paris 2015 nhằm giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng biến đổi khí hậu, hoặc sau này bán lại cho các doanh nghiệp trong nước khác đang cần, ví dụ để doanh nghiệp xuất khẩu đáp ứng cơ chế CBAM của châu Âu.
Theo tôi, nếu không có vai trò của đầu tư, đặc biệt là đầu tư công để kích thích, thì thị trường sơ khai hiện tại sẽ rất khó vận hành.
KTSG: Thị trường này có lành mạnh hay không, một vấn đề then chốt cần đặt ra, chính là độ tin cậy của tín chỉ carbon?
- Vâng, tôi hiểu ý anh. Đúng vậy, nếu không có hệ thống MRV bao gồm các bước đo đạc - báo cáo - thẩm định, thì chắc chắn không có tín chỉ carbon, hoặc có thì chỉ bán được với giá rất thấp do không đủ độ tin cậy. Ở thị trường toàn cầu hiện nay, tín chỉ carbon có giá dao động rất lớn, từ vài đô la đến cả trăm đô la Mỹ. Giá trị cao hay thấp phụ thuộc vào hệ thống đo lường có minh bạch, chính xác hay không cũng như giá trị của tín chỉ carbon tạo ra. Ví dụ tín chỉ carbon từ rừng ngập mặn, cỏ biển đang có giá trị rất cao và thường được gọi là carbon xanh (blue carbon). MRV càng chi tiết, càng rõ ràng thì càng góp phần nâng cao giá trị tín chỉ. Chứ không phải cứ muốn là “có” tín chỉ này.
Để có “sản phẩm” tốt, giá trị giao dịch cao, đòi hỏi phải chuyển đổi số hiệu quả. Dữ liệu phải được số hóa để đảm bảo minh bạch. Tùy vào yêu cầu của người mua mà mức độ đo lường sẽ khác nhau, nhưng bắt buộc phải làm thực chất chứ không thể chỉ “nói trên giấy” mà được.
Tương lai, ai cũng có thể tạo ra tín chỉ carbon?
KTSG: Được biết, ông và các cộng sự đang đề xuất mô hình “phòng thí nghiệm sống” (Living Lab) tại Đại học Quốc gia TPHCM để hướng đến một đô thị tín chỉ carbon?
- Về bản chất, “Living Lab” khác hoàn toàn với các phòng thí nghiệm truyền thống đóng kín. Đó là nơi chúng ta có những mô hình có thể “trình diễn” được trong môi trường thực tiễn, chứ không chỉ tính toán trong phòng thí nghiệm. Đây là một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mở, hoạt động ngay trong bối cảnh thực tế đời sống, lấy người dùng làm trung tâm và dựa trên mô hình “bộ tứ” vận hành, gồm Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - cộng đồng.
Chúng tôi đề xuất chọn Đại học Quốc gia TPHCM để triển khai vì nơi đây hội tụ đủ các yếu tố của một “thành phố thu nhỏ”. Với diện tích hơn 650 héc ta, quy mô lớn, đa ngành, đa lĩnh vực, nó đủ rộng để thử nghiệm các chính sách phức tạp nhưng cũng đủ gọn để kiểm soát rủi ro.
Trong mô hình này, Đại học Quốc gia TPHCM sẽ đóng ba vai trò trụ cột. Thứ nhất là “sandbox” (hộp cơ chế) cho thực nghiệm, tức là nơi thử nghiệm các công nghệ giảm phát thải và cơ chế giao dịch carbon trong môi trường an toàn trước khi nhân rộng. Thứ hai, đây là trung tâm nâng cao năng lực khi có thể đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu về kiểm kê, báo cáo và thẩm định carbon. Và vai trò thứ ba là đầu mối kết nối, tạo không gian đối thoại trung lập giữa các bên liên quan để tìm tiếng nói chung.
Chúng tôi xây dựng một khuôn khổ hợp tác chặt chẽ qua ba giai đoạn. Trước tiên là đồng thiết kế (Co-design) khi các bên cùng ngồi lại xác định vấn đề và lên kế hoạch. Tiếp đến là đồng thực hiện (Co-production) để triển khai thí điểm các giải pháp công nghệ hoặc chính sách tại khuôn viên Đại học Quốc gia TPHCM và đồng đánh giá (Co-evaluation) - phân tích dữ liệu thực tế để rút ra bài học kinh nghiệm.
Lợi ích đem lại là rất rõ ràng cho các đối tượng. Với cơ quan quản lý, có cơ sở thực tiễn để tinh chỉnh các chính sách về thị trường carbon, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trước khi ban hành rộng rãi. Doanh nghiệp có không gian để kiểm chứng các mô hình kinh doanh xanh, giảm thiểu rủi ro đầu tư và tiếp cận sớm với các công nghệ mới. Nhà nghiên cứu có được dữ liệu sống (real-time data) quý giá để phục vụ nghiên cứu khoa học.
Tóm lại, chúng tôi muốn thí điểm các giải pháp đo lường, giảm phát thải tại đây như tận dụng rác hữu cơ, tiết kiệm năng lượng, giao thông xanh... Đây là cách chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp vào quá trình xây dựng thị trường carbon của TPHCM, từ khâu thiết kế cho đến triển khai các giải pháp, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững thực chất chứ không chỉ là lý thuyết. Khi đã có mô hình thực tế, đo lường được hiệu quả bằng MRV, chúng ta có thể mời doanh nghiệp, nhà làm chính sách đến xem và thảo luận giải pháp nhân rộng ra các khu đô thị khác của TPHCM.
Ngoài ra, chúng tôi cũng đề xuất hướng sắp tới sẽ đưa Đại học Quốc gia TPHCM trở thành một khu đô thị trung hòa carbon (Net Zero) sớm hơn thời hạn 2050 mà Việt Nam đã cam kết với thế giới.
KTSG: Thật ra, từ lâu người dân Việt Nam đã có ý thức “Living Lab” về môi trường. Đó là nhà nhà phân loại, để dành “ve chai” rồi bán hay cho người thu gom phế liệu để tái chế. Liệu có thể xem đây là một hình thức sơ khai của việc tạo ra tín chỉ carbon hay không và làm sao để những người dân bình thường cũng tham gia được vào thị trường này?
- Ý kiến rất hay. Tôi nghĩ đó cũng là một dạng tín chỉ, cụ thể là tín chỉ về rác thải nhựa. Rác thải nhựa đang là vấn nạn toàn cầu. Hiện chúng ta có cơ chế EPR (trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất), nếu doanh nghiệp không thu gom bao bì thì phải đóng tiền vào Quỹ Bảo vệ môi trường.
Khi chúng ta tạo ra được các tín chỉ từ việc thu gom này và doanh nghiệp có thể mua lại, thì một mặt giúp doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm, mặt khác giúp những người làm nghề ve chai, lao động tự do có thêm nguồn thu nhập. Đây sẽ đóng góp vào mục tiêu “phát triển bao trùm” mà Đảng và Nhà nước đang quan tâm trong thời gian qua.
Tuy nhiên, chúng ta cần vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp trong việc tạo ra các nền tảng (platform) để ghi nhận, giám sát, hệ thống đo đạc để chứng minh được số liệu thì mới quy đổi việc trồng cây, tiết kiệm điện, thu gom rác “ve chai”... ra tín chỉ được.
Tôi thấy điển hình khả thi nhất là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) - doanh nghiệp lớn có thể đóng vai trò đầu tàu để kết nối và tạo ra tín chỉ carbon từ cộng đồng khi có thể xác nhận các hộ dân tiết kiệm điện.
EVN có lợi thế dữ liệu. EVN đang nắm, quản lý dữ liệu của hàng triệu hộ dân. Đây là nền tảng tuyệt vời để triển khai các giải pháp diện rộng mà các đơn vị khác khó làm được.
Nếu EVN đưa ra các giải pháp khuyến khích hộ dân tiết kiệm năng lượng hoặc sử dụng điện mặt trời mái nhà, dù mỗi hộ chỉ tiết kiệm một chút, nhưng nhân lên với quy mô hàng chục triệu hộ thì đó là câu chuyện “tích tiểu thành đại”. Ta tính nhẩm thử chỉ cần 30-50% số hộ tại TPHCM tham gia, lượng phát thải giảm được sẽ là con số khổng lồ đấy chứ!
Lúc này, Nhà nước thông qua EVN hoặc doanh nghiệp có thể đứng ra thu gom, tích lũy các kết quả tiết kiệm điện nhỏ lẻ này để quy đổi thành tín chỉ carbon. Thay vì từng hộ dân không thể tự bán tín chỉ vì quá nhỏ lẻ, EVN sẽ là đầu mối đại diện để xác nhận và giao dịch. Đây là cơ chế tích lũy tín chỉ.
Chỉ còn một vấn đề là yêu cầu về công nghệ. Để bán được tín chỉ này, EVN cần xây dựng các dự án cụ thể và hệ thống đo lường minh bạch dựa trên dữ liệu số hóa có sẵn, để chứng minh được lượng điện tiết kiệm thực tế so với mức nền (baseline). Nếu không xây dựng thành dự án bài bản, các kết quả này chỉ dừng lại ở việc đóng góp cho mục tiêu chung quốc gia chứ không thể bán ra tiền.
Như thế, có thể thấy, thị trường carbon không chỉ là sân chơi của các “ông lớn” công nghiệp. Trong tương lai, từng hộ gia đình, từng cá nhân đều có thể trở thành người bán tín chỉ nếu có cơ chế phù hợp.
Tại đô thị như TPHCM, như đã nói, tín chỉ từ việc mỗi hộ dân trồng cây xanh, lắp điện mặt trời mái nhà, thực hành tiết kiệm điện, phân loại rác “ve chai”... đều đóng góp vào việc giảm phát thải chung. Điều kiện tiên quyết là phải có cơ chế, đánh giá, ghi nhận, báo cáo rõ ràng.
Hoặc ở khu vực nông thôn có thể là tín chỉ từ ruộng lúa. Chương trình “1 triệu héc ta lúa chất lượng cao” đang được đồng bằng sông Cửu Long tiên phong thực hiện. Người nông dân tham gia chương trình sẽ thay đổi tập quán canh tác - giảm phân bón, tưới nước tiết kiệm ngập - khô xen kẽ. Việc này giúp giảm phát thải khí nhà kính, đặc biệt là khí mê tan. Lợi ích kép là nông dân vừa giảm chi phí đầu vào như phân, nước, vừa có thêm thu nhập từ việc bán tín chỉ carbon được tạo ra từ chính mảnh ruộng của mình.
KTSG: TPHCM đang xây dựng, phát triển trung tâm tài chính quốc tế. Theo ông, thị trường carbon có vai trò gì trong bức tranh này?
- Tôi nghĩ đây là cơ hội tuyệt vời cho tài chính xanh, trong đó thị trường tín chỉ carbon sẽ phải là một trong những trụ cột quan trọng của Trung tâm Tài chính quốc tế TPHCM.
Theo định hướng, TPHCM sẽ là nơi thí điểm thị trường carbon của cả nước, trước khi vận hành toàn quốc. Đặt trong bối cảnh trung tâm tài chính quốc tế, vị thế của thị trường này sẽ mạnh mẽ hơn, thu hút được nhiều nguồn lực hơn. Tôi rất kỳ vọng đây sẽ là một trong số những lời giải quan trọng cho bài toán nguồn lực dành cho các dự án xanh trong thời gian tới.












