Tỉnh Điện Biên: Nâng tầm chuỗi giá trị sản phẩm nông sản chủ lực

Tỉnh Điện Biên định hướng phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn, gắn với chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị để nâng cao sức cạnh tranh cho các sản phẩm chủ lực.

Ngày 18/7, UBND tỉnh Điện Biên phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Hội Làm vườn Việt Nam tổ chức Diễn đàn "Phát triển nông nghiệp bền vững gắn với chuyển đổi xanh và nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực tại Điện Biên".

Tập trung phát triển vùng nguyên liệu gắn với chế biến

Phát biểu khai mạc Diễn đàn, ông Lò Văn Cương, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Điện Biên nhấn mạnh, phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu đã trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hiện nay.

Ông Lò Văn Cương, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Điện Biên phát biểu khai mạc Diễn đàn.

Ông Lò Văn Cương, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Điện Biên phát biểu khai mạc Diễn đàn.

Ông Cương cho biết, các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính cùng yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng và phát triển bền vững đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức đối với ngành nông nghiệp.

Là tỉnh miền núi biên giới với diện tích tự nhiên hơn 954.000 ha, trong đó đất nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm khoảng 93%, Điện Biên có nhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp hàng hóa, nông nghiệp xanh và hữu cơ. Tỉnh hiện có hơn 10.000 ha lúa chất lượng cao, 10.800 ha cà phê, 12.400 ha mắc ca và gần 5.000 ha cây ăn quả. Công tác xây dựng thương hiệu cũng được chú trọng với 2 chỉ dẫn địa lý và 9 nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận đã được bảo hộ.

Tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư năm 2026, Điện Biên đã ký biên bản ghi nhớ với 8 doanh nghiệp, nhà đầu tư để nghiên cứu phát triển vùng nguyên liệu, trang trại chăn nuôi tập trung và chế biến nông sản. Tuy nhiên, theo lãnh đạo tỉnh, quy mô sản xuất vẫn còn nhỏ lẻ, liên kết chuỗi chưa bền vững, tỷ lệ chế biến sâu còn thấp và việc thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng.

Cà phê Arabica và kinh tế tuần hoàn là hướng đi chiến lược

Tại Diễn đàn, TS. Lê Văn Đức, Hội Làm vườn Việt Nam nhận định, miền núi phía Bắc có tiềm năng lớn để phát triển nông nghiệp xanh gắn với kinh tế tuần hoàn, song cần triển khai thận trọng do những thách thức về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội.

Với lợi thế về đất đai, khí hậu và các sản phẩm đặc thù như cà phê Arabica, mắc ca, lúa chất lượng cao, Điện Biên đang lựa chọn hướng phát triển nông nghiệp xan, chế biến sâu để nâng sức cạnh tranh trong bối cảnh thị trường ngày càng khắt khe.

Với lợi thế về đất đai, khí hậu và các sản phẩm đặc thù như cà phê Arabica, mắc ca, lúa chất lượng cao, Điện Biên đang lựa chọn hướng phát triển nông nghiệp xan, chế biến sâu để nâng sức cạnh tranh trong bối cảnh thị trường ngày càng khắt khe.

Theo ông Đức, vùng Tây Bắc có lợi thế đặc biệt đối với cà phê chè Arabica nhờ mùa khô rõ rệt trong các tháng 12, 1 và 2. Dù diện tích cà phê của khu vực chỉ chiếm khoảng 5,6% cả nước, đây vẫn là vùng trọng điểm cà phê Arabica của Việt Nam. Riêng Điện Biên, diện tích cà phê đã tăng thêm hơn 5.000 ha chỉ trong bảy tháng, cho thấy địa phương đã xác định đúng cây trồng trọng điểm.

Ông Đức cũng nhấn mạnh vai trò của kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp, đặc biệt là việc tận dụng phụ phẩm trồng trọt và chăn nuôi để tái sử dụng, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả kinh tế. Nhiều mô hình kết hợp trồng cỏ sinh khối, rau màu với chăn nuôi bò, gà, vịt; sử dụng chất thải để nuôi giun quế và quay lại phục vụ sản xuất đã cho thấy hiệu quả rõ rệt.

Bên cạnh đó, việc số hóa sản xuất, áp dụng mã QR truy xuất nguồn gốc, xây dựng mã số vùng trồng và phát triển sản phẩm OCOP được xem là điều kiện quan trọng để nông sản miền núi phía Bắc tham gia hệ thống siêu thị, thương mại điện tử và thị trường xuất khẩu.

ThS. Đinh Thị Tiếu Oanh, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cho rằng vùng Tây Bắc cần đổi mới cơ cấu giống cà phê theo hướng sử dụng các giống mới có năng suất và chất lượng cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy các giống TN1, TN2, TN6, TN7, TN9 và THA1 đều đạt năng suất khoảng 3 tấn nhân/ha, kháng bệnh gỉ sắt tốt và có chất lượng thử nếm cao hơn giống Catimor đang được trồng phổ biến.

Bà Oanh đề xuất triển khai đồng bộ các giải pháp về nhân giống, tưới tiết kiệm, thích ứng biến đổi khí hậu và quản lý vùng trồng theo yêu cầu truy xuất nguồn gốc, không gây mất rừng theo quy định của các thị trường nhập khẩu.

Trong khi đó, PGS.TS Phạm Anh Tuấn, nguyên Viện trưởng Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch cho rằng Điện Biên cần ưu tiên đầu tư công nghệ bảo quản và chế biến sau thu hoạch phù hợp với từng ngành hàng. Đối với lúa gạo, cần phát triển công nghệ sấy và bảo quản silo; với cà phê và chè tập trung vào chế biến đặc sản, rang xay và lên men có kiểm soát. Cây ăn quả cần đầu tư kho lạnh, công nghệ bao gói khí biến đổi (MAP), cấp đông nhanh (IQF), sấy lạnh và sấy thăng hoa nhằm kéo dài thời gian bảo quản.

Ông Tuấn cũng khuyến nghị tăng cường tận dụng phụ phẩm nông nghiệp trong chế biến để phát triển chuỗi sản xuất theo hướng kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản Điện Biên.

Ông Lò Văn Cương, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Điện Biên, cam kết tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình triển khai các dự án nông nghiệp trên địa bàn.

Nguyễn Hạnh

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/tinh-dien-bien-nang-tam-chuoi-gia-tri-san-pham-nong-san-chu-luc-465861.html