Tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nâng hiệu lực thực thi
Sáng 23/10, Quốc hội thảo luận tại Tổ về dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Tham gia thảo luận tại Tổ 8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng đã có phát biểu giải trình, làm rõ nhiều nội dung được các đại biểu nêu.
5 hình thức VBQPPL đề xuất giảm vẫn có hiệu lực, giá trị thực hiện
Phân tích bối cảnh các lần sửa đổi Luật VBQPPL gần đây, Bộ trưởng khẳng định, việc sửa đổi Luật nhằm thực hiện chủ trương của Đảng, thể chế hóa những chủ trương rất lớn của Đảng có liên quan đến công tác xây dựng, ban hành VBQPPL. Trong đó, lần sửa đổi này chủ yếu và trọng tâm là để thể chế hóa Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị để hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Nội dung sửa đổi Luật bám sát vào các định hướng của Kết luận.
Về một số nội dung cụ thể được các đại biểu đề cập, liên quan đến vấn đề tinh gọn hệ thống VBQPPL, Bộ trưởng cho biết, hiện nay, chúng ta có 22 hình thức VBQPPL của các cơ quan có thẩm quyền, bao gồm Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng…
“Hiện nay chúng ta có khá nhiều hình thức văn bản, trong đó có những cơ quan có thể ban hành một lúc 2 hình thức VBQPPL, dẫn tới hệ thống VBQPPL có quá nhiều hình thức và quá nhiều văn bản. Hiện, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương giúp Chính phủ tổng rà soát hệ thống VBQPPL, tổng hợp kết quả rà soát sơ bộ cho thấy chúng ta đang có khoảng 45.000 VBQPPL từ Trung ương đến địa phương đang có hiệu lực và đã ban hành, sắp có hiệu lực. Hệ thống văn bản càng đồ sộ thì việc thực thi càng khó, càng cồng kềnh càng tiềm ẩn rủi ro không thống nhất”, Bộ trưởng cho hay.
Kết luận số 09-KL/TW của Bộ Chính trị đã nêu rất rõ chủ trương đơn giản hóa hệ thống VBQPPL theo hướng mỗi chủ thể có thẩm quyền ban hành VBQPPL chỉ ban hành một hình thức VBQPPL với lộ trình thực hiện phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở bám sát chủ trương của Đảng, yêu cầu thực tiễn cũng như quá trình nghiên cứu, lấy ý kiến các cơ quan, Chính phủ đề xuất giảm bớt 5 hình thức VBQPPL.
Theo Bộ trưởng, khi giảm bớt 5 hình thức VBQPPL, các chủ thể ban hành các văn bản này vẫn sẽ tiếp tục ban hành các văn bản và các văn bản vẫn có hiệu lực pháp lý như nhau, đều có giá trị bắt buộc thực hiện. Sự khác biệt giữa các hình thức văn bản này và VBQPPL nằm ở quy trình xây dựng và ban hành.
Giải pháp để phản ứng chính sách kịp thời, trong bối cảnh và hoàn cảnh đặc biệt
Về đề xuất cơ chế Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành VBQPPL để điều chỉnh quy định của luật trong một số trường hợp khẩn cấp, cấp bách, Quốc hội không thể họp được nhiều đại biểu đề cập, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh, Kết luận số 09-KL/TW đã đặt ra yêu cầu “nghiên cứu cơ chế cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ được ban hành văn bản điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp được hoặc điều chỉnh nội dung mang tính kỹ thuật để giải quyết ngay một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn, báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất”.
Đây là vấn đề đã được nêu trong Đề án để trình Bộ Chính trị xem xét để ban hành Kết luận số 09-KL/TW; trong đó đã nghiên cứu, lý giải rất rõ những vấn đề cả về lý luận và thực tiễn cho thấy sự phù hợp của chủ trương này. Do đó, phải đưa vào luật để thể chế hóa.
Theo Bộ trưởng, đây là một cơ chế mang tính chất ủy quyền lập pháp đặc biệt và tạm thời. Đặc biệt ở chỗ chỉ áp dụng trong những tình huống đặc biệt, gắn với bối cảnh và điều kiện rất cụ thể được quy định tại Điều 48 của dự thảo Luật; tạm thời ở chỗ việc áp dụng cơ chế này nhằm đáp ứng ngay yêu cầu giải quyết một tình huống khẩn cấp, cần thiết đang đặt ra, sau đó phải sửa đổi luật để luật hóa cho đúng quy định.
“Quy định như vậy không có nghĩa là Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội làm luật và sửa đổi luật, mà đây là một giải pháp để phản ứng chính sách kịp thời, trong bối cảnh và hoàn cảnh đặc biệt”, Bộ trưởng cho hay.
Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cũng cho biết, đây không phải cơ chế mới, mà đã được trải nghiệm qua thực tiễn. Trong đó, Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật (Nghị quyết số 206) đã cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ ban hành nghị quyết để điều chỉnh những quy định của luật nhằm kịp thời xử lý, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.
Kết quả thực hiện hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết số 206 cho thấy hiệu quả rất tích cực, góp phần đem lại kết quả như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhận định là thể chế không còn là “điểm nghẽn”.
Trước đó, năm 2021, Quốc hội cũng đã ban hành 30/2021/QH15 được đánh giá là một sáng kiến lập pháp chưa từng có tiền lệ trong hoạt động lập pháp, góp phần tháo gỡ rất nhiều khó khăn, vướng mắc và tạo sự chủ động cho Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc quyết định những giải pháp, ban hành, sửa đổi những quy định rất kịp thời để phục vụ yêu cầu của tình hình cấp bách trong bối cảnh phòng, chống đại dịch Covid-19. Nghị quyết cũng đã cho phép Chính phủ quy định và ban hành những chính sách khác luật để phúc đáp yêu cầu phòng, chống Covid-19 ở thời điểm đó.
Ngoài ra, Bộ trưởng cho hay, trước bối cảnh rất phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, trong khi Việt Nam là quốc gia có độ mở về kinh tế - xã hội lớn và mức độ hội nhập quốc tế rất lớn, việc quy định như vậy sẽ là một giải pháp để phản ứng chính sách thật kịp thời nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Bày tỏ tán thành với các ý kiến đề nghị quy định rất chặt chẽ về điều kiện áp dụng và cơ chế kiểm soát, Bộ trưởng cho biết, dự thảo Luật đã có quy định rất cụ thể về các tầng nấc kiểm soát và điều kiện áp dụng cơ chế này. Cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp thu ý kiến các đại biểu nêu, nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện thêm quy định về nội dung này nhằm đảm bảo chặt chẽ.
