Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Bộ VHTTDL về công tác bảo tồn, bảo tàng
Chiều 19.8, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có buổi làm việc với Bộ VHTTDL về công tác bảo tồn, bảo tàng.
Tham dự buổi làm việc có Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng; lãnh đạo các Ban, Bộ, ngành Trung ương và lãnh đạo một số bảo tàng.
Về phía Bộ VHTTDL có Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh; Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng; Các Thứ trưởng Bộ VHTTDL: Trịnh Thị Thủy, Tạ Quang Đông, Hoàng Đạo Cương, Phan Tâm, Hồ An Phong, cùng đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ VHTTDL.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Bộ VHTTDL về công tác bảo tồn, bảo tàng
Báo cáo của Bộ VHTTDL cho biết, theo quy định của Luật Di sản văn hóa, di sản văn hóa gồm các loại hình di sản văn hóa vật thể (di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia), di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu và hoạt động bảo tàng.
Hiện nay, cả nước có hơn 40.000 di tích và khoảng gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê.
Trong đó có: 37 di sản được UNESCO ghi danh (gồm 9 di sản văn hóa vật thể, 17 di sản văn hóa phi vật thể và 11 di sản tư liệu); 149 di tích quốc gia đặc biệt, 3.688 di tích quốc gia, gần 12.000 di tích cấp tỉnh, thành phố, 735 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể; 357 hiện vật, nhóm hiện vật được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia, trong đó có 161 hiện vật, nhóm hiện vật được bảo quản, trưng bày và phát huy giá trị tại các bảo tàng.
Cả nước đã có 20.060 di vật, cổ vật được đăng ký theo quy định của Luật Di sản văn hóa, 177 bảo tàng (gồm 94 bảo tàng công lập và 83 bảo tàng ngoài công lập), lưu giữ và trưng bày trên 4 triệu tài liệu hiện vật, trong đó có nhiều sưu tập, hiện vật đặc biệt quý hiếm.
Đội ngũ nghệ nhân là những người trực tiếp đóng góp quan trọng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể. Tính đến nay, qua 3 đợt xét phong tặng danh hiệu năm 2015, 2019 và 2022, đã có 1.881 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, trong đó có 131 Nghệ nhân nhân dân và 1.750 Nghệ nhân ưu tú.

Chiều 19.8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Bộ VHTTDL về công tác bảo tồn, bảo tàng
Trên phương diện quốc tế, Việt Nam tham gia 3 Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và 1 Chương trình của UNESCO, giữ vai trò chủ chốt của 2 Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể và 1 Chương trình Ký ức thế giới về di sản tư liệu của UNESCO.
Hiện nay, Bộ VHTTDL tiếp tục nghiên cứu để tham mưu với Chính phủ về khả năng tham gia Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001, Công ước UNIDROIT về ngăn chặn buôn bán trái phép cổ vật năm 1995.
Việt Nam là quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về số lượng Di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh trong Danh sách của UNESCO theo Công ước 2003, đứng thứ hai về số lượng Di sản thế giới được UNESCO công nhận theo Công ước 1972; được UNESCO đánh giá là điển hình mẫu về mô hình quản lý di sản gắn với phát triển bền vững về kinh tế - xã hội, phát triển du lịch và bảo vệ môi trường theo quan điểm phát triển bền vững của UNESCO.
Theo Bộ VHTTDL, với sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa được cụ thể hóa bằng các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc, của Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24.4.2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, tạo cơ sở chính trị quan trọng để thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển văn hóa và bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đã cơ bản hoàn thiện, phù hợp với thực tiễn và đồng bộ với các quy định của pháp luật khác có liên quan, tạo cơ chế thuận lợi để xã hội hóa, thu hút sự quan tâm, đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức cá nhân cho hoạt động này.
Bên cạnh đó, nhận thức chung của xã hội về tầm quan trọng và ý thức bảo vệ di sản những năm gần đây đã được nâng lên rõ rệt, vai trò chủ thể của cộng đồng ngày càng được khẳng định.
Di sản đóng góp thiết thực vào tạo sinh kế cho cộng đồng phát triển kinh tế - xã hội, phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa, xây dựng con người, củng cố khối đại đoàn kết, phát huy vai trò sức mạnh mềm quốc gia.
Việc thực hiện phân cấp, phân quyền quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân đã bảo đảm sự chủ động cho các địa phương, hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của địa phương ngày càng nền nếp, hiệu quả hơn; Công tác kiểm kê, xếp hạng, ghi danh di sản, tôn vinh nghệ nhân đạt nhiều kết quả quan trọng.
Cùng với đó, nhiều bảo tàng đã trở thành những điểm đến nổi bật, thường xuyên được kết nối trong các tuyến du lịch văn hóa. Hệ thống bảo tàng chuyên ngành được phát huy, khẳng định tầm quan trọng của công tác bảo tồn, bảo tàng trong xây dựng, phát triển đất nước.
Vị thế, uy tín của Việt Nam tại UNESCO và các cơ chế đa phương về văn hóa được nâng cao rõ rệt. Hợp tác song phương về văn hóa và bảo tồn, trùng tu di tích được triển khai thực chất, hiệu quả, bền vững.
Công tác tuyên truyền, quảng bá di sản văn hóa Việt Nam ra quốc tế được triển khai đồng bộ qua các sự kiện văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và chuỗi sự kiện văn hóa đối ngoại trong, ngoài nước, hoạt động hợp tác quốc tế của các bảo tàng, của các địa phương.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Bộ VHTTDL về công tác bảo tồn, bảo tàng
Tuy nhiên, công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vẫn còn tồn tại một số hạn chế, khó khăn. Trong đó, nhiều di sản văn hóa phi vật thể chưa có thế hệ nghệ nhân kế cận (đặc biệt là loại hình ngữ văn dân gian, sử thi dân gian), trong khi nhiều nghệ nhân tuổi đã cao, già yếu dẫn tới nguy cơ mai một, thất truyền.
Công tác kiểm kê, sưu tầm, tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể ở một số địa phương còn chưa thực sự được quan tâm nên có địa phương chưa có di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh (Lâm Đồng); ở một số địa phương trước sáp nhập, một số di sản văn hoá phi vật thể mai một mà chưa kịp ghi, thu lại.
Bên cạnh đó, nhiều nơi còn lúng túng trong việc xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển; giữa phát triển kinh tế và bảo tồn di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh, giữa lợi ích trước mắt với sự phát triển bền vững...
Một số địa phương ít tập trung ngân sách cho việc bảo tồn, tu bổ mà chỉ ưu tiên xây dựng các công trình mới nhằm khai thác giá trị di sản.
