Triển khai Nghị quyết 57: Tạo đột phá trong phát triển và trọng dụng nhân tài khoa học
Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều kết quả quan trọng đã tạo nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để tạo đột phá tăng trưởng, yêu cầu cấp bách hiện nay là xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao đủ năng lực làm chủ các công nghệ chiến lược.

Nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu của mô hình phát triển và tăng trưởng mới, đồng thời khẳng định đây không phải là sự lựa chọn mà là con đường tất yếu để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.
Đáng chú ý, bên cạnh những chỉ đạo về thể chế, hạ tầng và công nghệ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặc biệt nhấn mạnh bài toán nguồn nhân lực - nhiệm vụ mang tính căn cơ, lâu dài và cần bắt tay thực hiện ngay từ bây giờ. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, nếu muốn 10 năm tới có đội ngũ nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển khoa học, công nghệ thì ngay từ hôm nay phải xác định sẽ đào tạo ai, đào tạo ngành gì, khoa học cơ bản nào và theo mô hình nào. Bởi nguồn nhân lực không thể hình thành trong ngày một ngày hai mà phải được đầu tư bài bản, có tầm nhìn dài hạn, nhất là khi mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045 chỉ còn chưa đầy hai thập kỷ.
Những chỉ đạo trên cho thấy phát triển nguồn nhân lực không chỉ là một nhiệm vụ của ngành giáo dục, mà đã trở thành vấn đề chiến lược, giữ vai trò quyết định đối với thành công của Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng như năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.
Giải quyết “điểm nghẽn” nhân lực khoa học
Thực tiễn cho thấy, sau 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, các viện nghiên cứu, trường đại học ngày càng nhận thức rõ hơn vai trò không chỉ là nơi đào tạo nguồn nhân lực, mà còn phải trở thành cái nôi phát hiện, bồi dưỡng và thu hút nhân tài, tạo ra các công nghệ mới và đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng của đất nước. Để làm chủ các công nghệ chiến lược, trước hết phải có đội ngũ nhân tài đủ năng lực. Nhưng để nhân tài đó phát huy hết tiềm năng và cống hiến lâu dài, bên cạnh chính sách đãi ngộ xứng đáng, cần xây dựng môi trường học thuật xuất sắc, giao những bài toán lớn của quốc gia và tạo cơ chế đủ thông thoáng để họ tự do sáng tạo, chuyển hóa tri thức thành những giá trị thiết thực cho sự phát triển đất nước.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ dừng ở việc thu hút nhân lực khoa học, mà hướng tới xây dựng một hệ sinh thái phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng và phát huy nhân tài một cách toàn diện.
Bám sát chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai và các cơ chế mới dành cho đội ngũ nhà khoa học, Viện Hàn lâm đã chủ động cụ thể hóa thành hệ thống chính sách bao trùm toàn bộ quá trình phát triển nhân tài, từ phát hiện, đào tạo, thu hút, sử dụng đến đãi ngộ và tôn vinh, để mỗi nhà khoa học đều có lộ trình phát triển rõ ràng và cơ hội cống hiến lâu dài. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Viện đã triển khai nhiều chương trình đặc thù hỗ trợ nhà khoa học trẻ, thu hút nhân tài, phát triển các nhà khoa học đầu ngành và xây dựng nhóm nghiên cứu xuất sắc theo chuẩn quốc tế, đồng thời quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt cho đội ngũ nghiên cứu.
Bước vào giai đoạn mới, Viện Hàn lâm chuyển mạnh từ tâm thế vận dụng các chính sách sẵn có sang chủ động đề xuất và đi đầu trong việc cụ thể hóa những cơ chế đột phá mà Nghị quyết số 57-NQ/TW và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã mở đường, trong đó có cơ chế tiền lương, thu nhập tương xứng cho nhà khoa học đầu ngành, cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng gắn với chấp nhận rủi ro và độ trễ vốn là bản chất của nghiên cứu, cùng quyền tự chủ thực chất cho tổ chức khoa học và cho người chủ trì nhiệm vụ.
Cùng với đó, Viện đã xác định thu hút nhân tài phải có trọng tâm, trọng điểm, bám sát Danh mục công nghệ chiến lược quốc gia ban hành theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg, để nguồn lực con người được dồn đúng vào những lĩnh vực mà đất nước cần Viện Hàn lâm phải làm chủ, thay vì dàn trải. Đây chính là bước chuyển sẽ định hình diện mạo công tác nhân tài của Viện trong nhiệm kỳ tới.

Phát triển, thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn mới.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW là đưa khoa học, công nghệ vào thực tiễn, giải quyết những bài toán lớn của đất nước và đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng. Vì vậy, Viện Hàn lâm xác định đồng hành cùng các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp triển khai các nhiệm vụ liên ngành, từ kinh tế bay tầm thấp đến giám sát không gian, nông nghiệp và phòng, chống thiên tai. Những sứ mệnh này cũng đòi hỏi đội ngũ nhân lực chất lượng cao, không chỉ là các nhà khoa học mà còn có những kỹ sư trưởng, tổng công trình sư đủ năng lực kết nối nghiên cứu với ứng dụng và thị trường.
Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái cho rằng, rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở chủ trương, bởi Nghị quyết số 57-NQ/TW và các cơ chế liên quan đã tạo hành lang chính sách khá đầy đủ, mà ở khâu thực thi. Theo ông, trước hết là bài toán biên chế khi yêu cầu tinh giản trong khi nhiều nhà khoa học đầu ngành đến tuổi nghỉ hưu khiến Viện gặp khó trong tuyển dụng lực lượng kế cận. Tiếp đó là chính sách thu nhập chưa đủ sức cạnh tranh, dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám, nhất là ở các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Bên cạnh đó, việc chậm cụ thể hóa các cơ chế mới về tài chính, tự chủ và đãi ngộ cũng khiến nhiều chính sách thu hút chuyên gia, đặc biệt là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế, chưa phát huy hiệu quả như kỳ vọng.
Thực tiễn triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW cho thấy, bên cạnh những chuyển biến tích cực về thể chế và nhận thức, quá trình phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ. Không chỉ là câu chuyện về cơ chế thu hút, sử dụng và đãi ngộ nhân tài, thách thức còn nằm ở cách tổ chức hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo để các nguồn lực được kết nối và phát huy hiệu quả.
Báo cáo tham luận của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW chỉ rõ, điểm nghẽn lớn nhất của hệ thống giáo dục đại học hiện nay là đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo vẫn được tổ chức như ba hoạt động tương đối tách biệt, chưa hình thành một chuỗi giá trị thống nhất từ đào tạo, nghiên cứu đến chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Từ thực tiễn đó, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh lựa chọn phát triển hệ sinh thái hợp tác giữa Nhà nước-nhà trường-nhà doanh nghiệp, trong đó trường đại học giữ vai trò hạt nhân kết nối nhân tài, tri thức, công nghệ và các nguồn lực xã hội, qua đó chuyển hóa tri thức thành công nghệ, doanh nghiệp và động lực tăng trưởng của đất nước.
Đổi mới đào tạo nhân lực chất lượng cao
Thực tiễn cho thấy, trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng quyết liệt, lợi thế không còn thuộc về quốc gia chỉ biết đào tạo nhân lực, mà thuộc về quốc gia có khả năng thu hút, quy tụ và phát huy hiệu quả nhân tài. Từ bán dẫn, công nghệ lượng tử đến trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, nhu cầu về đội ngũ nhân lực chất lượng cao đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Đúng như tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, khoa học, công nghệ phải trở thành động lực của tăng trưởng và đi vào thực tiễn phát triển đất nước.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, theo các chuyên gia và nhà khoa học, điều quan trọng là sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về cơ chế, đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm phát triển, thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.

Phát triển nguồn nhân lực không chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục, mà đã trở thành vấn đề chiến lược, giữ vai trò quyết định đối với thành công của Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED), phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng các nhà khoa học trẻ phải được xem là một ưu tiên chiến lược nếu Việt Nam muốn xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học chất lượng cao. Bên cạnh chính sách đào tạo và đãi ngộ, điều quan trọng là tạo môi trường học thuật thuận lợi, trao cơ hội tham gia các nhóm nghiên cứu mạnh, tiếp cận hạ tầng hiện đại và mở rộng kết nối với các mạng lưới khoa học quốc tế để các nhà khoa học trẻ phát triển năng lực và gắn bó lâu dài với nghiên cứu.
Cụ thể hóa định hướng này, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia sẽ triển khai Chương trình Nghiên cứu sinh xuất sắc (VREF) nhằm phát hiện, tuyển chọn và hỗ trợ các nghiên cứu sinh có tiềm năng nổi trội trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ ưu tiên. Không chỉ hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, chương trình còn tạo điều kiện để các nghiên cứu sinh tham gia các nhóm nghiên cứu mạnh, kết nối với các nhà khoa học hàng đầu trong và ngoài nước, từng bước hình thành đội ngũ nghiên cứu trẻ có năng lực hội nhập quốc tế và làm chủ các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Để triển khai hiệu quả hơn nữa Nghị quyết số 57-NQ/TW theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái cho rằng, cần sớm tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế nhằm tạo đột phá trong phát triển và trọng dụng nhân tài khoa học. Trọng tâm là xây dựng cơ chế đặc thù về biên chế, tiền lương và đãi ngộ cho các tổ chức nghiên cứu; đẩy nhanh việc cụ thể hóa các quy định của Nghị quyết số 57-NQ/TW và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo; đồng thời có chính sách đủ hấp dẫn để thu hút chuyên gia quốc tế, trí thức Việt Nam ở nước ngoài cũng như đội ngũ tổng công trình sư, kỹ sư trưởng có khả năng kết nối nghiên cứu với sản xuất và thị trường.
Song song với đó, cần trao quyền tự chủ lớn hơn cho các tổ chức khoa học, tạo điều kiện hình thành các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, qua đó đẩy nhanh quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Hướng tới mục tiêu hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái cho biết, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, nhân tài chiếm ít nhất 20% số tuyển dụng mới, đồng thời mở rộng các hình thức thu hút linh hoạt như mời chủ trì nhiệm vụ khoa học, hợp tác nghiên cứu theo chương trình và dự án, không chỉ phụ thuộc vào chỉ tiêu biên chế. Cùng với việc ưu tiên các lĩnh vực công nghệ chiến lược, Viện cũng hướng tới xây dựng môi trường nghiên cứu đủ sức giữ chân các nhà khoa học trẻ gắn bó lâu dài, bởi theo ông, thu hút được nhân tài mới chỉ là bước khởi đầu, quan trọng hơn là tạo điều kiện để họ phát huy năng lực và cống hiến trọn vẹn cho sự phát triển của đất nước.
Với mục tiêu chiến lược trở thành đại học đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp hàng đầu châu Á, Đại học Bách khoa Hà Nội đã hình thành khá đầy đủ các mảnh ghép của một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong đại học, hợp tác ba nhà đã được triển khai ở một số cấp độ nhưng tính bền vững và lan tỏa chưa cao. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW, cần chuyển mạnh từ mô hình đào tạo truyền thống sang hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nơi đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ được kết nối thành một chuỗi thống nhất.
Theo đó, Đại học Bách khoa Hà Nội đang tái cơ cấu toàn diện hoạt động đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, hướng tới xây dựng một hệ sinh thái hoàn chỉnh ngay trong nhà trường, giúp công nghệ nhanh chóng đi từ phòng thí nghiệm đến doanh nghiệp và thị trường. Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho rằng, hệ sinh thái này được phát triển trên ba trụ cột: tạo ra tri thức và công nghệ nguồn ở các viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm; tăng cường hợp tác đại học-doanh nghiệp thông qua các phòng thí nghiệm và trung tâm chế thử; đồng thời thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Đây được xem là giải pháp quan trọng để đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao, gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn và đáp ứng yêu cầu phát triển các công nghệ chiến lược của đất nước.
Thực tế chứng minh, trong cuộc cạnh tranh công nghệ toàn cầu, cơ hội sẽ không chờ đợi những quốc gia chậm đổi mới. Vì vậy, tháo gỡ kịp thời các rào cản về cơ chế, phát triển và trọng dụng nhân tài không chỉ là yêu cầu của ngành khoa học và công nghệ, mà còn là quyết sách chiến lược để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hiện thực hóa tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đưa Nghị quyết số 57-NQ/TW đi vào cuộc sống.











