Từ chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về phát triển văn hóa Việt Nam:Đột phá tư duy quản trị: Mệnh lệnh khơi thông dòng chảy văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên số
Quán triệt những chỉ đạo chiến lược của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, ngành văn hóa đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải làm một cuộc cách mạng về tư duy quản trị. Trong bối cảnh 'di dân lên không gian số', bảo tồn di sản không thể dừng lại ở việc 'cất giữ' thụ động, mà cần những cơ chế đột phá để văn hóa thực sự tái sinh, kiến tạo thị trường và trở thành sức mạnh nội sinh của dân tộc.

Phát huy giá trị văn hóa dân tộc là yêu cầu quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập
Cuộc di dân vĩ đại của nhân loại lên không gian số đang đặt nền văn hóa Việt Nam trước thử thách sinh tử, đã đến lúc cần đột phá mạnh mẽ trong tư duy quản trị, chuyển từ hành chính bao cấp sang kiến tạo thị trường, để mỗi di sản không chỉ được “cất giữ”, mà phải thực sự tái sinh và tự nuôi sống mình trong xã hội đương đại.
Biên cương văn hóa trên không gian số
Lịch sử nhân loại là chuỗi những cuộc di dân để sinh tồn và phát triển, thập niên 20 của thế kỷ này, nhân loại đang tham gia vào một cuộc di dân quy mô chưa từng có để đi từ không gian thực lên không gian số. Trên đó mỗi ngày, con người không chỉ học tập, làm việc, giao dịch mà đang thực sự “thở”, được định hình tư duy và nhân cách thông qua các thuật toán của mạng xã hội, các dòng chảy nội dung số xuyên biên giới.
Tại Phiên họp thứ 2 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam diễn ra vào ngày 13.7.2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra những chỉ đạo mang tính chiến lược, thẳng thắn nhận diện “bốn khoảng trống” và yêu cầu quán triệt “ba chuyển dịch lớn”. Đây thực sự là lời hiệu triệu, là mệnh lệnh phát đi từ thực tiễn khách quan của đất nước trước thềm kỷ nguyên mới của dân tộc.
Hiện nay, biên cương quốc gia không còn được giới hạn bởi các cột mốc địa lý, đường biên đất liền hay vùng trời, vùng biển mà nằm ở “địa phận văn hóa” trên internet. Nếu chúng ta “chậm chân”, nếu chúng ta để lại những “khoảng trống” về nội dung số, về sản phẩm sáng tạo, đồng nghĩa là chúng ta “tự nguyện” nhường “thị phần tinh thần” của công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ cho các “bộ lọc văn hóa ngoại lai”.

Việc khắc phục “khoảng trống” văn hóa lúc này là hành động có tính chiến lược trong bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng
Khi tâm hồn, thế giới quan và lòng tự hào dân tộc mỗi người Việt bị dẫn dắt bởi những thuật toán của công nghệ, đó không còn là câu chuyện giải trí cá nhân thuần túy, mà là nguy cơ xói mòn bản sắc, là bài toán sinh mệnh và chủ quyền quốc gia cần được nhìn nhận sâu sắc. Vì vậy, khắc phục “khoảng trống” văn hóa lúc này thực sự là hành động có tính chiến lược trong bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.
Đừng để di sản thành những “kho dữ liệu tĩnh”
Từ góc độ quản lý, một trong những lực cản lớn nhất khiến văn hóa chưa thể bứt phá, tương xứng với nguồn lực nội sinh của đất nước nhiều năm qua, chính là căn bệnh “hành chính hóa” và tư duy “đếm đầu việc”. Chúng ta đã có những nghị quyết rất sâu sắc, những chiến lược rất tầm vóc, nhưng khi chuyển hóa xuống các cấp thực thi, mọi thứ lại vô tình bị “co ép” vào các báo cáo số liệu cơ học.
Việc đánh giá thi đua, năng lực của bộ máy quản lý văn hóa lâu nay vẫn dựa trên số lượng công việc hoàn thành kiểu như tổ chức được bao nhiêu hội thảo, thành lập được mấy trang thông tin điện tử, giải ngân được ngần nào ngân sách cho các đề án địa phương… Hệ quả là sự ra đời của những dự án “số hóa” mang tính hình thức.

Một chương trình nhằm lan tỏa di sản văn hóa dân tộc đến khách du lịch
Chúng ta không thể không trăn trở trước một nghịch lý thực tế là những kho dữ liệu số hóa di sản trị giá hàng tỉ đồng từ nguồn ngân sách nằm im lìm trong các thiết bị lưu trữ, hoặc tồn tại “nghèo nàn” trên các trang giao diện web cũ kỹ với lượng truy cập hạn chế.
Việc chụp một bức ảnh 3D của ngôi chùa cổ, quét một văn bản chữ Nôm thành file rồi đưa lên mạng chưa thể gọi là chuyển đổi số văn hóa. Đó mới chỉ là việc đưa phần vỏ bọc dữ liệu lên không gian mạng, còn phần “hồn”, tức là giá trị tri thức, sự tương tác, tính kết nối và khả năng lan tỏa hoàn toàn vắng bóng.
Cách làm này phần nào vô tình biến tài nguyên di sản vô giá của dân tộc thành kho lưu trữ tĩnh, tiêu tốn ngân sách nhưng không tạo ra nhiều giá trị thặng dư cho xã hội chưa kể là lãng phí nguồn lực quốc gia. Và để giải quyết tận gốc căn bệnh này, thước đó hiệu quả của ngành văn hóa cần phải được thay đổi triệt để, chuyển từ đo lường “số lượng sản phẩm làm ra” sang đo lường “tác động thực tế đời sống”.
Tiêu chuẩn mới để đánh giá cán bộ quản lý văn hóa không phải là lưu trữ được bao nhiêu dữ liệu, mà là dữ liệu đó có thực sự sống động, có bao nhiêu lượt người tương tác, chia sẻ và khả năng ứng dụng trong thực tiễn.
Đồng thời, cần đánh giá dữ liệu di sản đã được bao nhiêu dự án điện ảnh sử dụng làm bối cảnh, bao nhiêu công ty game và nhà phát triển nội dung số khai thác để xây dựng cốt truyện, bao nhiêu ứng dụng du lịch thông minh kết nối phục vụ du khách, hay bao nhiêu mô hình AI được huấn luyện từ kho tri thức số đó để hiểu và tương tác bằng ngôn ngữ, tư duy Việt.

Người dân và du khách xem biểu diễn nghệ thuật truyền thống tại phố đi bộ Nguyễn Huệ, TP.HCM
Sự dịch chuyển tư duy này sẽ lập tức giải phóng đội ngũ cán bộ khỏi áp lực làm báo cáo đẹp, buộc họ phải bước ra khỏi “phòng kính”, chủ động hòa mình vào dòng chảy công nghệ và thị trường để làm cho kho tàng di sản quốc gia thực sự tái sinh và lay động lòng người trong đời sống đương đại.
Khơi nguồn lực xã hội, đưa di sản vào đời sống
Song song với cuộc cách mạng về thước đo, một điểm nghẽn mang tính “căn cốt” cần được khơi thông từ tâm lý coi văn hóa là lĩnh vực “tiêu tiền”, phụ thuộc hoàn toàn vào dòng vốn ngân sách nhà nước. Tư duy ấy dẫn đến sự đầu tư dàn trải, cào bằng; nơi nào cũng muốn xây dựng nhà văn hóa, thiết chế bảo tàng nhưng khi hoàn thành thì rơi vào tình trạng hoạt động “cầm chừng”, thiếu vắng công chúng.
Lát cắt thực tế đầy suy ngẫm của ngành Điện ảnh nước nhà thời gian qua là có những bộ phim đề tài lịch sử do Nhà nước đặt hàng, đầu tư hàng chục tỉ đồng ngân sách, được giới chuyên môn đánh giá cao về giá trị nội dung nhưng khi ra rạp lại gặp khó khăn rất lớn ở khâu phát hành.
Bởi cơ chế tài chính công hiện hành chưa cho phép linh hoạt chi tiền cho truyền thông, quảng bá, hoặc chưa có cơ chế chia sẻ tỉ lệ doanh thu thương mại một cách năng động với các cụm rạp tư nhân, khiến phim chỉ chiếu được một số buổi mang tính “nghiệm thu” rồi đưa vào lưu trữ. Đó là một sự lãng phí tài sản công và bóp nghẹt sức sống của tác phẩm nghệ thuật khi nó bị tách rời khỏi quy luật thị trường và hệ sinh thái phân phối hiện đại.
Trong khi đó, ở một chiều hướng khác, chúng ta lại thấy một sức sống mới, năng động của dòng chảy văn hóa từ khu vực tư nhân. Những dự án trò chơi điện tử thuần Việt lấy chất liệu từ lịch sử và văn hóa dân gian do các studio độc lập của thế hệ trẻ thực hiện đã tạo nên tiếng vang lớn trên các nền tảng quốc tế.
Những dự án nghiên cứu, phục dựng cổ phục Việt của các hội nhóm thanh niên, hay những sản phẩm âm nhạc kết hợp nghệ thuật tuồng, chèo, nhạc cụ dân tộc của các nghệ sĩ trẻ đương đại đạt hàng chục triệu lượt xem, khơi dậy làn sóng tự hào dân tộc mạnh mẽ trong công chúng.
Điểm chung của các dự án này là tạo ra doanh thu, tạo ra việc làm, quảng bá văn hóa Việt ra thế giới với việc vận hành hoàn toàn bằng dòng vốn xã hội hóa, tự chủ và linh hoạt. Thực tế này minh chứng cho luận điểm năng lực sáng tạo và khát vọng văn hóa trong xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân cực kỳ to lớn.

Cái thiếu ở đây không phải là ý tưởng hay nguồn lực, mà là một cơ chế định hướng thống nhất và một hành lang pháp lý thực sự an toàn. Để hiện thực hóa điều này, chúng ta cần có những giải pháp thực sự đột phá về mặt thể chế, nên chăng thí điểm một không gian cơ chế đặc thù cho công nghiệp văn hóa số tại các đô thị lớn.
Trong đó, Nhà nước đóng vai trò “ra đề”, kiến tạo điều kiện cần thiết và giám sát toàn diện về mặt chủ quyền bản sắc; các tập đoàn công nghệ, doanh nghiệp văn hóa tư nhân có năng lực được tiếp cận, khai thác và dịch vụ hóa kho tàng di sản dưới dạng các sản phẩm sáng tạo mới.
Cơ chế hài hòa lợi ích, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phải được luật hóa một cách minh bạch. Khi doanh nghiệp nhìn thấy sự an toàn về pháp lý và cơ hội phát triển chính đáng từ văn hóa, họ sẽ tự nguyện rót vốn đầu tư lớn vào lĩnh vực này.
Bảo tồn đúng đắn nhất và bền vững nhất trong kỷ nguyên mới không phải là đóng hộp kính cất giữ, mà làm cho di sản tự sống, tự tạo ra nguồn lực để quay vòng nuôi dưỡng chính nó trong lòng xã hội đương đại.
Tư duy kiến tạo của “người cầm lái”
Nhìn tổng thể chiến lược, khoảng trống lớn nhất của văn hóa Việt hiện tại không nằm ở sự thiếu hụt tài nguyên di sản, cũng không nằm ở sự lạc hậu của công nghệ, mà chính là khoảng trống về tư duy quản trị. Đòi hỏi phải tạo ra bước đột phá chuyển từ tư duy hành chính cũ kỹ sang tư duy kiến tạo hiện đại để khơi thông điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn.
Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý hay đề cao tính thương mại hóa của văn hóa mà đó chính là sự nâng tầm năng lực quản trị của Nhà nước trong không gian mới.
Ở đó, đội ngũ quản lý văn hóa không chỉ là “người gác cổng” thụ động, chỉ biết dựng lên những chiếc “barie” hành chính hay các mệnh lệnh cấm đoán khi đối mặt với những hiện tượng mới chưa có trong tiền lệ quy định.
Đội ngũ quản lý văn hóa thời đại số phải mang tư duy của “người cầm lái” hiểu quy luật của dòng “hải lưu” để điều khiển con thuyền văn hóa Việt đi đúng hướng, vượt sóng ra khơi.

Nhà nước phải là người thiết kế sân chơi, tạo ra dòng chảy định hướng bằng cơ chế chính sách, bằng nguồn đầu tư chiến lược để khích lệ các giá trị chân - thiện - mỹ, tạo điều kiện cho những sản phẩm văn hóa Việt đủ mạnh mẽ để cạnh tranh “sòng phẳng” và đẩy lùi các nội dung độc hại trên không gian mạng ở phạm vi toàn cầu.
Đổi mới tư duy quản trị là khơi thông nguồn lực nội sinh to lớn của dân tộc, khi “chiếc áo” thể chế được nới rộng, phù hợp với tầm vóc mới; khi bộ máy quản lý văn hóa vận hành bằng tư duy kiến tạo; mỗi doanh nghiệp và nghệ sĩ được bảo vệ và chắp cánh sáng tạo, văn hóa Việt sẽ thực sự nền tảng tinh thần vững chắc, một trụ cột kinh tế mũi nhọn.
Đó chính là chìa khóa để định vị bản sắc Việt Nam trường tồn, tự chủ, tự cường và kiêu hãnh bước vào kỷ nguyên phát triển hùng cường, thịnh vượng của dân tộc.











