Từ chiến lược 'mạnh về biển, giàu từ biển' đến 'quốc gia biển mạnh'
Biển không chỉ là khoảng không gian nằm ngoài đường biên lục địa, mà trở thành một trong những mặt trận cạnh tranh phát triển quan trọng bậc nhất của các quốc gia.

Vịnh Quy Nhơn, đã được định hình thành một trong những trung tâm cảng biển, logistcis quan trọng của khu vực miền Trung. Ảnh: Dũng Nhân/TTXVN phát
Có những quốc gia giàu lên nhờ đất đai và khoáng sản, có những quốc gia vươn lên bằng công nghiệp và công nghệ, đồng thời cũng có những quốc gia tạo dựng vị thế bằng cách làm chủ những dòng chảy của biển - dòng chảy của hàng hóa, năng lượng, dòng chảy của tài nguyên, môi trường… Và trên tất cả đó là dòng chảy của chủ quyền và vị thế trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên mà biển không chỉ là khoảng không gian nằm ngoài đường biên lục địa, mà trở thành một trong những mặt trận cạnh tranh phát triển quan trọng bậc nhất của các quốc gia.
Với lợi thế của một quốc gia biển có vị trí địa chiến lược đặc biệt quan trọng, có vùng biển rộng hơn 1 triệu km2, gấp khoảng ba lần diện tích đất liền, là chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, không gian phát triển chiến lược và là bộ phận cấu thành quan trọng của năng lực cạnh tranh và sức mạnh tổng hợp quốc gia, việc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV thông qua Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh mang một ý nghĩa vượt xa phạm vi của một nghị quyết chuyên ngành.
Đặc biệt, quan điểm chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại với động lực chính là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao, cùng với việc xác định xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, trong đó đề cao vai trò trung tâm của nhân dân và doanh nghiệp trong phát triển kinh tế biển, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo cho thấy tầm nhìn chiến lược và toàn diện của Nghị quyết.
Cách đây 8 năm, Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã tạo ra một bước chuyển quan trọng trong nhận thức khi biển được nhìn nhận không chỉ là không gian khai thác tài nguyên, mà còn là không gian sinh tồn, phát triển, giao lưu quốc tế và bảo vệ Tổ quốc.
Nghị quyết số 36-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, bảo đảm an ninh, an toàn; đến năm 2045 trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước và Việt Nam tham gia chủ động, có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển, đại dương.
Như vậy, Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là bước phát triển tiếp theo của một quá trình tư duy chiến lược đã được hình thành từ nhiều nhiệm kỳ. Tuy nhiên, điểm nhấn đáng chú ý nằm ở cách đặt vấn đề mới. Nếu Nghị quyết số 36-NQ/TW nhấn mạnh vào phát triển bền vững kinh tế biển, thì nghị quyết mới đặt trọng tâm vào xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Sự thay đổi này phản ánh bước tiến tư duy bởi một nền kinh tế biển mạnh chưa chắc đã tạo nên một quốc gia biển mạnh, nhưng một quốc gia biển mạnh có nghĩa đồng thời nhiều năng lực mạnh: năng lực kinh tế; năng lực khoa học, công nghệ; năng lực quản trị không gian biển; năng lực logistics và hàng hải; năng lực bảo vệ môi trường; năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh; năng lực thực thi pháp luật trên biển; năng lực ngoại giao và hợp tác quốc tế cùng với một cộng đồng doanh nghiệp đủ sức vươn ra đại dương, một cộng đồng cư dân biển đảo giàu mạnh vững bền và một nền văn hóa biển được gìn giữ và phát huy.
Nói cách khác, biển được đặt vào cấu trúc của chiến lược phát triển quốc gia, chứ không chỉ là một nhóm ngành kinh tế. Biển không chỉ là thủy sản, là dầu khí, là cảng biển; cũng không chỉ là du lịch, logistics hay năng lượng tái tạo, mà biển trở thành một không gian phát triển chiến lược tổng hợp, nơi hội tụ kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học - công nghệ, môi trường, đô thị, logistics, năng lượng, thương mại quốc tế và đối ngoại.
Theo tầm nhìn đó, quản trị biển cũng được thay đổi. Nghị quyết nêu rõ: “Chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại; từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia biển mạnh; từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia…”. Điều đó đồng nghĩa không thể để mỗi địa phương có biển tự phát triển một cảng, một khu kinh tế, một khu công nghiệp, một khu đô thị, một trung tâm du lịch mà thiếu sự liên kết trong một chiến lược không gian biển quốc gia. Cũng không thể để mỗi ngành nhìn biển từ một lát cắt riêng, mà quốc gia biển mạnh phải được xây dựng bằng một tầm nhìn biển thống nhất.
Một điểm mới khác có ý nghĩa rất lớn trong nghị quyết lần này là việc nhấn mạnh vai trò trung tâm của nhân dân và doanh nghiệp trong phát triển đất nước theo hướng biển. Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định: “Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; là quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân; bảo đảm đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước và sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội. Phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn ra biển lớn; đề cao vai trò trung tâm của nhân dân và doanh nghiệp trong phát triển kinh tế biển, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo”. Đây là một thay đổi quan trọng về chủ thể phát triển.
Lịch sử phát triển của các quốc gia biển mạnh cho thấy, Nhà nước kiến tạo, nhưng doanh nghiệp mới là lực lượng đi ra biển và tạo ra giá trị trên biển mà có thể coi Hàn Quốc là một mô hình. Nhà nước kết hợp chính sách công nghiệp với các tập đoàn lớn để tạo nên năng lực cạnh tranh về đóng tàu, vận tải biển, thiết bị hàng hải và công nghệ tàu xanh… Không chỉ là doanh nghiệp khai thác cảng, mà phải là những doanh nghiệp có thể sở hữu đội tàu viễn dương, phát triển logistics xuyên biên giới, đóng tàu và thiết bị hàng hải, phát triển năng lượng ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, cung cấp dịch vụ tài chính - bảo hiểm hàng hải, nghiên cứu công nghệ biển và tham gia những chuỗi giá trị biển toàn cầu. Có thể khẳng định đây là một trong những thước đo thực chất nhất của một quốc gia biển mạnh.
Một điểm nhấn đáng chú ý khác trong quá trình chuyển hóa mục tiêu từ “mạnh về biển, giàu từ biển” đến “quốc gia biển mạnh” được Nghị quyết nhấn mạnh đó là “những đôi chân” khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao - những động lực chính đưa quốc ra tiến ra biển xa và sâu trong hành trình phát triển quốc gia biển mạnh.

Nhà máy sửa chữa, đóng mới các loại tàu biển của Công ty TNHH Đóng tàu HD Hyundai Việt Nam đầu tư tại Khu kinh tế Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa). Ảnh tư liệu: Nguyễn Thành/TTXVN
Thực tế cho thấy, trong thế kỷ XXI, biển ngày càng được chinh phục không phải bằng sức người đơn thuần mà bằng tri thức, dữ liệu và công nghệ biển. Tàu tự hành, cảng thông minh, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu đại dương, vệ tinh, robot dưới nước, công nghệ nuôi biển, năng lượng gió ngoài khơi, vật liệu mới, công nghệ quan trắc và dự báo môi trường biển… đang làm thay đổi căn bản cách con người khai thác và quản trị đại dương. Với định hướng đó, Việt Nam sẽ tránh được cạm bẫy phát triển biển bằng mô hình công nghệ thấp, giá trị gia tăng thấp và khai thác tài nguyên đơn thuần.
Nghị quyết số 36-NQ/TW từng xác định khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố đột phá của phát triển bền vững kinh tế biển. Trong giai đoạn mới, yêu cầu đó càng trở nên cấp thiết bởi nếu không làm chủ công nghệ, Việt Nam có thể sở hữu biển nhưng không sở hữu được giá trị của biển. Vì thế, tinh thần của Nghị quyết số 20-NQ/TW cho thấy, một quốc gia biển mạnh phải đi cùng một hệ sinh thái tri thức biển mạnh. Nơi đó có hệ thống trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, trung tâm dữ liệu đi cùng đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, nhà hải dương học, chuyên gia luật biển, logistics, tài chính và quản trị biển…
Một điểm đặc biệt quan trọng của nghị quyết mới là đặt phát triển đất nước theo hướng biển gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Đây là tư duy có tính nguyên tắc. Một quốc gia có nền kinh tế biển mạnh sẽ tạo ra nguồn lực để củng cố quốc phòng, an ninh. Một không gian biển hòa bình, ổn định, an toàn lại tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư, người dân sinh sống, đánh bắt, nuôi trồng, nghiên cứu và làm ăn lâu dài trên biển. Hay nói cách khác, hiện diện kinh tế cũng là một dạng năng lực quốc gia mà Việt Nam đã và đang thực thi.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nước mạnh về biển đều tổ chức sức mạnh quốc gia theo hướng tổng hợp. Nhật Bản xây dựng chính sách đại dương gắn với an ninh, khoa học, tài nguyên và phát triển; Trung Quốc kết hợp phát triển kinh tế biển với bảo vệ quyền và lợi ích biển; Hàn Quốc gắn công nghiệp hàng hải với năng lực quốc gia; Singapore kết hợp năng lực cảng, thương mại, hàng hải với bảo đảm an toàn và lợi ích chiến lược. Đó cũng là cách tiếp cận phù hợp với Việt Nam - phát triển để có thêm sức mạnh bảo vệ biển; bảo vệ biển để mở rộng không gian phát triển.
Như Nghị quyết đã nêu: “Bối cảnh quốc tế và trong nước cùng với vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của biển và đại dương đặt ra yêu cầu phải xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”. Khát vọng “vươn ra biển lớn” sẽ được chuyển hóa thành những trung tâm kinh tế biển có sức cạnh tranh quốc tế, những doanh nghiệp biển mạnh, những cảng biển và trung tâm logistics có khả năng tham gia sâu vào mạng lưới toàn cầu, những đội tàu và ngành đóng tàu có năng lực cạnh tranh cao, những ngành kinh tế biển công nghệ cao, năng lượng ngoài khơi phát triển đúng hướng, hệ thống khoa học, dữ liệu và quan trắc đại dương hiện đại, nguồn nhân lực biển chất lượng cao, các cộng đồng ven biển có sinh kế bền vững và một hệ thống quản trị biển đủ hiệu quả để phát triển nhưng không đánh đổi môi trường, phát triển nhưng gắn kết chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại nhằm duy trì hòa bình, thúc đẩy hợp tác, đẩy lùi nguy cơ xung đột trên biển.
Và đó là lúc Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh!











