Từ nguyên của 'ngần' trong 'trắng ngần'

Trong các chuyên mục 'Cà kê chuyện chữ nghĩa' số trước, chúng tôi đã bàn đến cách giải thích từ nguyên một số từ như 'phiền phức', 'phức tạp', 'giá họa', 'trọng tài', 'canh kệ', của sách Tầm nguyên từ điển (Vân-Hạc Lê Văn Hòe - Quốc Học Thư Xã ấn hành 1942, NXB Trẻ tái bản quý 1, năm 2026). Chuyên mục này, chúng tôi tiếp tục đề cập đến cách giảng chữ 'ngần' trong từ 'trắng ngần'.

Mục “trắng ngần”, Vân Hạc Lê Văn Hòe giải thích: “TRẮNG NGẦN: Tả cảnh gái đẹp, nhà văn - thơ thường dùng mấy chữ: trong giá trắng ngần.

TRONG GIÁ là trong suốt không có vết gợn bẩn gì như giá (tức là nước đông như băng, tuyết).

TRẮNG NGẦN là trắng bóng như con cá ngần. Cá ngần là một thứ cá nước ngọt mình trong như thủy - tinh và trắng như bạc, nhỏ và dài, coi rất đẹp và ăn rất thơm ngon, ngày xưa những nơi có cá này, như dân chài làng Đa - Ngư Thanh - Oai (Hà đông) chẳng hạn, đều phải đem cá tiến Vua”.

Cách giải thích từ nguyên của Lê Văn Hòe có chỗ cần bàn lại.

Về hai chữ “trong giá”, thì đúng như tác giả Tầm nguyên từ điển giải thích. “Trong giá” có nguồn gốc từ ý niệm “băng thanh” trong Hán văn. Trong đó, “băng” (冰) có nghĩa là “băng giá”, “nước đá”; “thanh” (清) là “trong”; “băng thanh” (trong giá) ý chỉ trong sạch như băng, thanh cao, cao khiết; chỉ phẩm hạnh trong sạch, đức hạnh cao đẹp. Thành ngữ Băng thanh ngọc khiết (冰清玉潔), Băng thanh ngọc nhuận (冰清玉潤) đều ví với đức hạnh cao khiết.

Tuy nhiên, “trắng ngần” mà giảng là “trắng bóng như con cá ngần”, thì cần phải bàn lại, vì “cá ngần” cũng là cách gọi tên dựa theo từ nguyên của “ngần” mà thôi.

Vậy, từ nguyên của “ngần” trong “trắng ngần” là gì?

Đó chính là chữ “ngân” (銀), kim loại quý màu trắng sáng, mềm, khó gỉ, dẫn điện tốt, thường dùng để mạ hoặc làm đồ trang sức. Chữ “ngần” gốc Hán từ chữ “ngân” mà ra. Thế nên chữ “ngân” (銀), được Hán ngữ đại tử điển giảng nghĩa thứ 5 là: tượng ngân tử đích nhan sắc (像銀子的顏色) nghĩa là: có màu sắc giống như màu bạc. Hai chữ “ngân bạch” (銀白) được sách này giảng là: bạch trung lược đới ngân quang đích nhan sắc (白中略帶銀光的顏色), nghĩa là: Màu trắng pha ánh bạc (màu trắng bạc).

Về hiện tượng biến âm (ngân ngần), ta còn thấy trong nhiều trường hợp khác như: La (羅) = là, hàng dệt bằng tơ nõn, thưa và mỏng (như: quần là áo lượt; khăn là; Hỡi anh áo trắng quần là/ Ước gì sum họp một nhà anh ơi); Dâm (霪) = dầm (dâm vũ 雨霪 = mưa dầm); Ngân (垠) = bờ, giới hạn; từ đó phát triển thành nghĩa chừng mực, mức độ ngần (ví dụ: vô ngần).

Chữ “ngân” với nghĩa “có màu sắc giống như màu bạc” được dùng để đặt tên cho nhiều sự vật, như: Ngân Hà (銀河) = sông Ngân (dải sáng màu trắng bạc vắt ngang bầu trời đêm); ngân nhĩ (銀耳), tức bạch mộc nhĩ (白木耳), một loài nấm trắng, hơi trong, có màu trắng ánh bạc. Điều thú vị là trong Hán ngữ, ngân ngư (銀魚) = cá ngân, được Hán ngữ đại từ điển giảng là: “tên một loài cá, tục gọi là cá mì sợi (miến điều ngư - 麵條魚, do thân hình giống sợi mì). Thân cá nhỏ dài, nhẵn, không có vảy, màu trắng, hơi trong suốt. Đầu dẹt bằng, miệng lớn. Sinh sống ở vùng ven biển, cửa sông hoặc các hồ nước ngọt”.

Đối chiếu đặc điểm sinh học thì thấy rằng “cá ngần” chính là “ngân ngư”, thuộc họ Cá ngần hay họ Cá ngân (Salangidae).

Như vậy, “trắng ngần” là trắng và sáng bóng tựa như ngân (bạc), chứ không phải là “trắng bóng như con cá ngần”. Vì bản thân con “cá ngần” (có nơi vẫn gọi là cá ngân), cũng được đặt tên dựa trên màu sắc trắng sáng, ánh bạc của thân cá với sắc trắng sáng và ánh lên của màu bạc (ngân), như chính Vân Hạc Lê Văn Hòe mô tả (“thứ cá nước ngọt mình trong như thủy - tinh và trắng như bạc”), mà ta còn thấy trong cách gọi tên Ngân Hà (sông Ngân), ngân nhĩ (nấm trắng),... mà thôi.

Mẫn Nông (CTV)

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/tu-nguyen-cua-ngan-nbsp-trong-trang-ngan-291689.htm