Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ di sản nghệ thuật chèo dân gian từ tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh nhân dân: Nghiên cứu trường hợp Câu lạc bộ Chèo Phương Thượng, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình
Bài viết phân tích vai trò của cộng đồng trong bảo vệ di sản nghệ thuật chèo dân gian từ tư tưởng Hồ Chí Minh, qua nghiên cứu trường hợp Câu lạc bộ Chèo Phương Thượng, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình.

CLB chèo Phương Thượng trong buổi quay phục dựng các tiết mục chèo cổ tại đình làng do Sở Văn hóa, Thể thao Ninh Bình phối hợp với Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch thực hiện ngày 14/7/2026 (Ảnh: Hà Vân)
1. Đặt vấn đề
Nghệ thuật Chèo là một trong những loại hình sân khấu truyền thống tiêu biểu của văn hóa Việt Nam, hình thành từ kho tàng văn nghệ dân gian lưu vực sông Hồng và phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần của cư dân nông nghiệp vùng châu thổ Bắc Bộ (Trần Bảng, 1994). Theo Hà Văn Cầu, Chèo "là một hình thức nghệ thuật dân gian do những nông dân sáng tạo ra để tự thể hiện mình và trở lại phục vụ cho giai cấp mình" (Hà Văn Cầu, 1964), vì vậy Chèo luôn gắn bó mật thiết với cộng đồng làng xã, với đình đền và sinh hoạt lễ hội cổ truyền.
Trong bối cảnh hiện đại hóa, đô thị hóa và sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình giải trí mới, nghệ thuật Chèo nói chung và các câu lạc bộ Chèo làng xã nói riêng đang đứng trước nguy cơ mai một do đứt gãy truyền nghề, thiếu lực lượng kế cận và thiếu nguồn lực duy trì hoạt động (Nguyễn Thị Hoài Anh, 2025). Tuy nhiên, thực tiễn ở nhiều địa phương thuộc các tỉnh Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Nội, Ninh Bình… cho thấy, không ít cộng đồng vẫn duy trì được sức sống của di sản thông qua các mô hình bảo tồn tự phát nhưng bền vững. Câu lạc bộ (CLB) Chèo làng Phương Thượng (phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình) là một trường hợp tiêu biểu: được thành lập khoảng năm 1992, câu lạc bộ đã duy trì hoạt động hơn ba thập kỷ hoàn toàn dựa vào nguồn lực và tinh thần tự nguyện của cộng đồng làng xã.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của nhân dân, đặc biệt nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" là một khung lý luận có giá trị soi chiếu để phân tích vai trò chủ thể của cộng đồng trong bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Từ đó, bài viết đặt mục tiêu: (i) hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò của nhân dân trong sáng tạo và lưu giữ các giá trị văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh và cách tiếp cận bảo tồn dựa vào cộng đồng của UNESCO; (ii) phân tích vai trò của cộng đồng trong bảo tồn nghệ thuật Chèo qua trường hợp CLB Chèo Phương Thượng; (iii) đề xuất giải pháp phát huy vai trò cộng đồng gắn với định hướng phát triển văn hóa - xã hội của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2025 - 2030.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong văn hóa
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân luôn được xác định là chủ thể sáng tạo văn hóa, là lực lượng gốc rễ quyết định sự tồn tại và phát triển của văn hóa dân tộc (Hồ Chí Minh, 2011). Nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" - vốn được hình thành và phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chính quyền và đời sống mới - thể hiện một quan niệm dân chủ sâu sắc, trong đó nhân dân không phải là đối tượng thụ động tiếp nhận mà là chủ thể chủ động của mọi hoạt động xã hội, kể cả hoạt động văn hóa. Vận dụng vào lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa, chúng ta có thể hiểu bốn thành tố của nguyên tắc này như sau: trước hết, cộng đồng cần được tiếp cận đầy đủ thông tin, tri thức về giá trị di sản mình đang nắm giữ (dân biết); thứ hai, cộng đồng được bàn bạc, quyết định về phương thức thực hành và tổ chức sinh hoạt di sản (dân bàn); thứ ba, công đồng là lực lượng trực tiếp thực hành, sáng tạo và truyền dạy di sản trong đời sống thường nhật (dân làm); và thứ tư, chính cộng động tự giám sát chất lượng, tính nguyên bản của di sản trong quá trình thực hành (dân kiểm tra).
2.2. Cách tiếp cận bảo tồn di sản dựa vào cộng đồng
Trong Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO xác định: “cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân đã sáng tạo, duy trì và chuyển giao loại hình di sản này” là chủ thể trung tâm trong việc sáng tạo, duy trì, truyền dạy và bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Với cách tiếp cận này, có thể thấy di sản văn hóa phi vật thể chỉ có thể tồn tại một cách sống động khi gắn liền với thực hành của chính cộng đồng nắm giữ nó; mọi nỗ lực bảo tồn tách rời khỏi đời sống cộng đồng đều có nguy cơ biến di sản thành hiện vật trưng bày tĩnh tại thay vì một thực hành văn hóa sống. Từ đó, có thể nhận thấy sự tương đồng rõ nét giữa cách tiếp cận của UNESCO với tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò chủ thể của nhân dân trong văn hóa: cả hai đều nhấn mạnh vị trí trung tâm, chủ động của cộng đồng, không chỉ với tư cách người thụ hưởng mà còn là người kiến tạo, thực hành, truyền dạy và giám sát di sản.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study), kết hợp phân tích tài liệu thứ cấp và tư liệu kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể. Nguồn tư liệu chính gồm tài liệu khảo sát tại địa phương qua phỏng vấn các nghệ nhân hát Chèo của Câu lạc bộ và các công trình nghiên cứu đã công bố về nghệ thuật Chèo vùng châu thổ Bắc Bộ (Nguyễn Thị Hoài Anh, 2025; Trần Bảng, 1994; Hà Văn Cầu, 1964); và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 (Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, 2025) làm cơ sở đối chiếu định hướng chính sách. Bài viết sử dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp lịch sử - logic được sử dụng để làm rõ mối quan hệ giữa lý luận (tư tưởng Hồ Chí Minh, cách tiếp cận bảo tồn dựa vào cộng đồng) và thực tiễn (mô hình của CLB Chèo Phương Thượng).
3. Nghệ thuật Chèo trong không gian văn hóa châu thổ Bắc Bộ và trường hợp Câu lạc bộ Chèo Phương Thượng
3.1. Giá trị văn hóa và không gian sinh tồn của nghệ thuật Chèo
Vùng châu thổ Bắc Bộ - lưu vực các hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã - là cái nôi của nền văn minh nông nghiệp lúa nước và môi trường làng xã, tạo điều kiện cho các thiết chế văn hóa cơ sở như đình, đền, chùa phát triển, đồng thời trở thành không gian sinh hoạt của nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, trong đó có Chèo (Nguyễn Thị Hoài Anh, 2025). Chèo là loại hình nghệ thuật tổng hợp, hội tụ ca - múa - nhạc - diễn xuất, phản ánh nhân sinh quan của người Việt qua các vở kinh điển như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình - Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên (Trần Bảng, 1994). Về nguồn gốc của chèo, có nhiều sự tích được lư truyền, song theo sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, mục “Thể lệ về âm nhạc” cho biết: “Theo sử ký, lúc nhà Trần đánh Toa Đô bắt được vai kép hát hay là Lý Nguyên Cát, sau đó con trai, con gái các nhà thế gia học theo khúc hát này, Nguyên Cát sáng tác các trò cổ tích, có những tích Tây Vương mẫu dâng bàn đào… các vai trò có những danh hiệu quan nhân (vai kép), châu tử (vai tướng), đào nương hay sửu nô (hề đồng) gồm 12 người, mặc quần áo gấm vóc, đánh trống thổi sáo, gẩy đàn, vỗ tay, đàn phách rất là nhộn nhịp, người vào buồng trò, ngươi ra sân rạp, thay đổi nhau diễn trò, dễ cảm động người xem, khi diễn trò đau thương thì người xem cũng đau thương, trò vui thì người xem cùng vui. Nước ta có nghệ thuật hát chèo bắt đầu từ đấy” (Nguyễn Thanh, 2025).
Trong lịch sử, nghệ thuật Chèo được hình thành và phát triển qua hệ thống các chiếng chèo ở tứ trấn Đông, Đoài, Nam, Bắc, tương đương với các chiếng chèo ở tứ xứ: chiếng Đông, chiếng Đoài, chiếng Nam, chiếng Bắc (Nguyễn Thanh, 2025) và các phường chèo, gánh hát làng xã như chèo làng Khuốc, Thiết Trụ, Thổ Hà, Yên Duyên, Hạ Thái - những mô hình sinh hoạt cộng đồng do chính dân làng lập ra, hoạt động theo phương thức bán chuyên nghiệp hoặc tự phát nhưng bền vững qua nhiều thế hệ nhờ sự yêu mến và truyền thụ của cộng đồng (Nguyễn Thị Hoài Anh, 2025). Có thể thấy, ngay từ trong bản chất lịch sử, nghệ thuật hát chèo đã mang đậm tính cộng đồng, tính tập thể trong sáng tạo và thực hành - một đặc điểm có ý nghĩa quan trọng khi đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò chủ thể của nhân dân trong sáng tạo và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa.
Trong đời sống văn hóa đương đại, bên cạnh các đơn vị nghệ thuật Chèo chuyên nghiệp đã sáp nhập thành các trung tâm văn hóa hoặc nhà hát nghệ thuật truyền thống, hàng trăm câu lạc bộ Chèo làng xã vẫn đang hoạt động trải rộng khắp các tỉnh ở Bắc Bộ, duy trì sức sống của loại hình di sản này thông qua hình thức thực hành không chuyên (Nguyễn Thị Hoài Anh, 2025). Đáng chú ý là vào ngày 29/3/2024, trên cơ sở đề nghị của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Văn phòng Chính phủ có văn bản số 2082/VPCP-KGVX truyền đạt ý kiến của Phó thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đồng ý đệ trình UNESCO xem xét, đưa Nghệ thuật Chèo vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong bối cảnh đó, việc bảo tồn Chèo tại cơ sở - ở những cộng đồng thực hành cụ thể như Phương Thượng - có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi giá trị của một hồ sơ di sản quốc tế suy cho cùng bắt nguồn từ sức sống thực hành tại chính cộng đồng.
3.2. Khái quát về Câu lạc bộ Chèo Phương Thượng, phường Lê Hồ, Ninh Bình
Từ truyền thống nghệ thuật hát chèo của ông cha đã tồn tại hàng trăm năm ở địa phương, từ sau năm 1954, đội chèo của xã Lê Hồ được thành lập và hoạt động liên tục trong thời gian dài. Năm 1992, đội chèo có 20 người và đến năm 2002, sau khi tỉnh Hà Nam tái lập được 5 năm, hình thành CLB chèo của thôn Phương Thượng, xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, Hà Nam (cũ), nay là phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình.
CLB Phương Thượng tập hợp 15 thành viên là những người có tố chất văn hóa văn nghệ, trong đó có hai nghệ nhân ưu tú Hoàng Văn Hởi (80 tuổi, được phong tặng năm 2019) và Nguyễn Thị Sao (70 tuổi, được phong tặng năm 2022). Tất cả các diễn viên quần chúng tham gia với tinh thần đam mê nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa - văn nghệ của cộng đồng, đồng thời góp phần bảo tồn nghệ thuật chèo truyền thống tại địa phương.
Ngoài ra, trên địa bàn phường Lê Hồ còn có hai CLB chèo người cao tuổi với số lượng 12 – 13 người/đội và CLB chèo Đồng Hóa (thuộc xã Phương Xá cũ) được thành lập vào năm 2023.
4. Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn nghệ thuật Chèo tại Phương Thượng nhìn từ nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"
4.1. "Dân biết": Cộng đồng nhận thức và tiếp cận thông tin về giá trị di sản
Cộng đồng nhân dân làng Phương Thượng thể hiện nhận thức rõ ràng về giá trị của nghệ thuật Chèo truyền thống và tinh thần trách nhiệm đối với di sản văn hóa của cha ông truyền lại ở địa phương. Tiếp nối hình thức tổ chức đội chèo của thôn xã trước đây, trong những bộn bề khó khăn của giai đoạn đầu thời kỳ Đổi mới, những người dân yêu chèo ở Phương Thượng đã tập hợp nhau lại thành một đội chèo, sau là CLB dưới sự dẫn dắt của một số hạt nhân như Nghệ nhân Hoàng Văn Hởi, tổ chức tập luyện, sáng tác và biểu diễn chèo. Trong giai đoạn hiện nay, khi các phương tiện thông tin đại chúng phát triển, các thành viên chủ yếu tự học, tự nghiên cứu thông qua việc nghe, xem các chương trình biểu diễn chèo, cho thấy khả năng chủ động tiếp cận và cập nhật tri thức về di sản của cộng đồng.
4.2. "Dân bàn": Cộng đồng thảo luận, quyết định phương thức tổ chức hoạt động của Câu lạc bộ
Mô hình vận hành của CLB phản ánh rõ tính tự chủ trong tổ chức sinh hoạt cộng đồng. CLB duy trì lịch tập luyện cố định vào các ngày cuối tuần, đồng thời trước mỗi đợt biểu diễn, giao lưu tại các chương trình văn nghệ, hội thi trong và ngoài tỉnh thì tổ chức tập luyện linh hoạt. Về địa điểm tập luyện, CLB tập trung tại nhà nghệ nhân Hoàng Văn Hởi để tập luyện hàng tuần. Đây là minh chứng cho việc cộng đồng không chỉ thực hành di sản một cách thụ động mà chủ động điều chỉnh phương thức tổ chức, địa điểm phù hợp với điều kiện thực tế, thể hiện tinh thần "dân bàn" trong đời sống văn hóa cơ sở.
4.3. "Dân làm": Cộng đồng trực tiếp thực hành, sáng tạo và truyền dạy di sản
CLB Chèo Phương Thượng duy trì đồng thời hai hướng hoạt động: bảo tồn các trích đoạn chèo cổ và dàn dựng vở chèo mới với chủ đề phản ánh đời sống đương đại. Nghệ nhân Hoàng Văn Hởi, thành viên cao tuổi nhất CLB là một trong những người có công phục dựng, phát triển chiếu chèo truyền thống của phường Lê Hồ. Không chỉ đóng vai trò đạo diễn, hướng dẫn các thành viên trong CLB từng làn điệu hát, từng canh trống chèo trong tập luyện, ông còn sáng tác các trích đoạn, vở diễn, hoạt cảnh chèo mới, bám sát các vấn đề của đời sống đương đại, viết lời mới cho các làn điệu chèo cổ. Những vở chèo mới do ông sáng tác đã được đội biểu diễn trong mấy chục năm qua như “Đồng Tranh về sáng” (thể hiện tinh thần khoán 10), “Truyện đời thường” (năm 1998), “Lòng tin”, “Kỷ vật thiêng liêng”, “Nỗi oan Nam Tào”… với nội dung sâu sắc, hướng con người đến các giá trị chân – thiện - mỹ và lồng ghép việc tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân. Việc truyền dạy được các thành viên CLB tích cực tham gia truyền dạy hướng dẫn kỹ năng hát chèo theo hình thức truyền khẩu kết hợp thực hành trực tiếp, từ thế hệ thành viên kỳ cựu sang thành viên mới, hình thành đội ngũ kế cận, góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát chèo. Với sự giúp đỡ của CLB, Trường THCS Lê Hồ đã thành lập CLB hát chèo, thu hút học sinh tham gia. Điều đó cho thấy cộng đồng không chỉ là người thụ hưởng di sản mà thực sự là chủ thể sáng tạo, thực hành và truyền dạy - đúng như tinh thần "dân làm" trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Nhân dân.
4.4. "Dân kiểm tra": Cộng đồng tự giám sát chất lượng và tính nguyên bản của di sản
Cộng đồng Phương Thượng cũng thể hiện vai trò giám sát đối với chất lượng thực hành và tính nguyên bản, cổ truyền của di sản. Việc CLB tiếp tục lưu giữ, tập luyện và biểu diễn các vở, trích đoạn chèo cổ như Lưu Bình - Dương Lễ, Tấm Cám, Quan Âm Thị Kính, Trương Viên bên cạnh các tiết mục mới như Quyền công dân – hoạt cảnh chèo được sáng tác và biểu diễn dịp bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân 15/3/2026 cho thấy ý thức chủ động cân bằng giữa bảo tồn giá trị nguyên gốc và sáng tạo thích ứng với đời sống đương đại. Tác phẩm “Chuyện đời thường” của CLB đã đạt 1 huy chương bạc tập thể, 1 huy chương vàng và 1 huy chương bạc dành cho diễn viên tại Liên hoan chèo các tỉnh Đồng bằng sông Hồng cho Bộ Văn hóa tổ chức kết quả phần nào phản ánh mức độ tự giám sát và duy trì chất lượng thực hành của cộng đồng trong điều kiện hoạt động văn hóa văn nghệ quần chúng.
5. Đánh giá về mô hình bảo tồn cộng đồng tại Câu lạc bộ Chèo Phương Thượng
Qua nghiên cứu tìm hiểu về CLB chèo Phương Thượng cho thấy kết quả đạt được như sau: Thứ nhất, CLB duy trì hoạt động liên tục trong hơn hai thập kỷ (từ 2002 đến nay) hoàn toàn dựa vào nguồn lực tự nguyện của cộng đồng - một thành tựu đáng ghi nhận đối với một mô hình bảo tồn tự phát, không có sự bảo trợ chuyên nghiệp thường xuyên. Thứ hai, hoạt động của câu lạc bộ góp phần giáo dục đạo đức, lối sống và tình yêu quê hương đất nước cho các thành viên và cộng đồng thụ hưởng, đồng thời tăng cường sự gắn kết cộng đồng, tạo sân chơi văn hóa lành mạnh. Thứ ba, CLB đã đạt giải trong các hội thi, hội diễn với các vở, hạot cảnh chèo mới, cập nhật những vấn đề nóng bỏng của thời đại, đồng thời tiếp tục lưu giữ được nhiều trích đoạn chèo cổ có giá trị.
Bên cạnh những mặt đạt được, mô hình CLB chèo Phương Thượng cho thấy một số hạn chế như: thiếu lực lượng trẻ kế cận do phần lớn thành viên là người trung niên (người trẻ nhất CLB hiện đã 40 tuổi), cao tuổi, trong khi người trẻ ít tham gia vì bận công việc và thiếu đam mê; thiếu cơ sở vật chất ổn định, CLB hiện phải tập nhờ tại nhà riêng của nghệ nhân; đội nhạc truyền thống của CLB đã tan rã do thành viên cao tuổi, sức khỏe yếu và không có lực lượng kế tục, hiện phần đệm nhạc chủ yếu dùng nhạc beat...
Từ những hạn chế trên, có thể nhận diện ba nguy cơ mai một chính đối với di sản nghệ thuật Chèo tại Phương Thượng: đứt gãy truyền nghề do thiếu đội ngũ kế cận và nghệ nhân hướng dẫn thường xuyên đã cao tuổi; suy giảm chất lượng nghệ thuật do phương thức tự học thay thế cho truyền dạy bài bản, đặc biệt ở phần âm nhạc truyền thống; và mất dần không gian văn hóa thực hành ổn định do thiếu địa điểm sinh hoạt và kinh phí duy trì hoạt động. Đây là những thách thức mà bản thân cộng đồng, dù có tinh thần trách nhiệm cao, khó có thể tự giải quyết triệt để nếu thiếu sự hỗ trợ từ bên ngoài.
6. Giải pháp phát huy vai trò cộng đồng gắn với định hướng phát triển văn hóa của tỉnh Ninh Bình
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định phương hướng "kết hợp chặt chẽ bảo tồn di sản với phát huy nguồn lực văn hóa... nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân" và "làm mới, lan tỏa giá trị các sự kiện, lễ hội, nghệ thuật cộng đồng" là một trong những nhiệm vụ trọng tâm phát triển văn hóa - xã hội (Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, 2025). Đây là cơ sở chính sách thuận lợi để đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm phát huy vai trò cộng đồng trong bảo tồn nghệ thuật Chèo tại Phương Thượng, bao gồm:
Thứ nhất, cần tăng cường truyền dạy và đào tạo với việc tiếp tục phát huy vai trò của các nghệ nhân ưu tú của CLB và các CLB khác trên địa để tổ chức các lớp tập huấn định kỳ; tổ chức lớp học Chèo dành cho thanh thiếu niên; nghiên cứu đưa nghệ thuật Chèo vào chương trình giáo dục địa phương, học tập kinh nghiệm của một số tỉnh đã triển khai hiệu quả mô hình này.
Thứ hai, tiếp tục hỗ trợ cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động cho CLB. Trước ngày 01/7/2025, hàng năm xã Lê Hồ (cũ) vẫn hỗ trợ một khoản kinh phí nhất định theo mùa cho các thành viên CLB (mức hỗ trợ tương đương từ 1,1 – 1,8 tạ thóc/vụ). Song sau ngày sáp nhập, do chưa có hướng dẫn, hoạt động hỗ trợ kinh phí của phường đang tạm dừng. Do vậy, cần sớm có chính sách hỗ trợ cho các thành viên CLB, đồng thời bố trí không gian sinh hoạt văn hóa ổn định cho câu lạc bộ, khắc phục tình trạng phải tập nhờ địa điểm không chuyên dụng; hỗ trợ kinh phí tập luyện, trang phục và đạo cụ biểu diễn, phù hợp với định hướng "nâng cao mức thụ hưởng văn hóa" của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh (Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, 2025).
Thứ ba, cần ứng dụng công nghệ số trong tư liệu hóa và quảng bá di sản. Cần tiến hành ghi âm, ghi hình có hệ thống các làn điệu, trích đoạn chèo cổ mà câu lạc bộ đang lưu giữ nhằm phòng ngừa nguy cơ thất truyền; xây dựng kênh truyền thông số (fanpage, kênh video) để lan tỏa giá trị di sản đến công chúng trẻ, phù hợp với chủ trương phát triển phương tiện nghe nhìn, truyền thông phục vụ đời sống văn hóa của tỉnh.
Thứ tư, tổ chức kết nối mạng lưới văn hóa - nghệ thuật vùng với việc tăng cường giao lưu giữa CLB chèo Phương Thượng với các CLB, đoàn chèo chuyên nghiệp tại các phường, xã và tỉnh có truyền thống Chèo lân cận; hợp tác với các cơ sở giáo dục đại học và nhà nghiên cứu văn hóa trong việc kiểm kê, tư liệu hóa và quảng bá di sản một cách bài bản, khoa học.
Thứ năm, gắn bảo tồn di sản với phát triển du lịch văn hóa bền vững bằng việc tổ chức biểu diễn chèo trong khuôn khổ các lễ hội truyền thống của địa phương; từng bước xây dựng sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch, phù hợp với định hướng "cơ cấu lại sản phẩm du lịch và nâng cao giá trị thương hiệu địa phương" gắn với bảo tồn di sản của tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2025 - 2030 (Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, 2025).
7. Kết luận
Trường hợp Câu lạc bộ Chèo Phương Thượng là minh chứng sống động cho tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của nhân dân trong lĩnh vực bảo tồn văn hóa: hơn hai thập kỷ duy trì hoạt động hoàn toàn dựa vào cộng đồng cho thấy di sản chỉ có thể sống một cách bền vững khi nó thực sự gắn bó với đời sống, nhu cầu tinh thần và tinh thần trách nhiệm của người dân. Bốn thành tố "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đều được thể hiện rõ nét trong cách thức cộng đồng Phương Thượng tiếp cận, tổ chức, thực hành và giám sát chất lượng di sản của mình.
Tuy nhiên, mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống dựa vào cộng đồng, dù thể hiện tính bền vững và tự chủ cao, vẫn đang đối mặt với những thách thức mà cộng đồng khó có thể tự giải quyết, đặc biệt là vấn đề lực lượng kế cận, cơ sở vật chất và nguồn lực đào tạo chuyên môn. Trong bối cảnh Việt Nam đang chuẩn bị hồ sơ đệ trình UNESCO đưa Nghệ thuật Chèo vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại thì việc bảo tồn Chèo tại cơ sở như ở Phương Thượng, cần được nhìn nhận là một bộ phận không thể tách rời của chiến lược bảo vệ di sản ở tầm quốc gia. Sự kết hợp giữa nội lực cộng đồng theo tinh thần "lấy dân làm gốc" và sự hỗ trợ có định hướng từ Nhà nước, chính quyền địa phương và các tổ chức văn hóa - nghệ thuật, phù hợp với chủ trương phát triển văn hóa - xã hội của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2025 - 2030, sẽ là điều kiện tiên quyết để nghệ thuật Chèo tiếp tục sống trong dòng chảy văn hóa dân tộc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Thị Hoài Anh (2025), Nghệ thuật chèo vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (618).
Trần Bảng (1994), Chèo - một hiện tượng sân khấu dân tộc, NXB. Sân khấu.
Hà Văn Cầu (1964), Quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật Chèo, Ban nghiên cứu Chèo, Viện Sân khấu - Điện ảnh.
Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (2025), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Lê Thanh Hiền (1996), Tổng luận nghệ thuật Chèo nửa sau thế kỷ XX, NXB. Văn hóa.
Lê Việt Hùng & Nguyễn Hồng (2001), Khảo sát Chèo làng Khuốc, Hà Xá, Sáo Đền [Tư liệu lưu trữ nội bộ], Thư viện Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội.
Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh toàn tập. NXB. Chính trị quốc gia.
Nguyễn Thanh (2025), Thái Bình vùng văn hóa bên bờ biển Đông, NXB. Thông tin và Truyền thông.
UNESCO (2003), Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization.












