Vận mệnh của dân tộc có thể được quyết định trong thập niên tới

Mười năm tới có thể có tính chất quyết định với Việt Nam. Thời đại kinh tế số và dữ liệu đã đến. Có vẻ như lần này chúng ta có cơ hội xuất phát cùng nhịp với thế giới.

Phát biểu tại phiên họp hội nghị chính sách tiền tệ quốc gia mới đây, Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc nói chính sách tiền tệ không còn dư địa mở rộng trong năm 2026. Có nghĩa rằng để đạt chỉ tiêu tăng trưởng hai con số (tối thiểu 10%/năm), nhiệm vụ đặt lên vai chính sách tài khóa. Chính phủ dự kiến tăng đầu tư công để tổng đầu tư toàn xã hội đạt 40% GDP.

Theo tôi, nguồn lực này vẫn không đủ bởi ba lý do. Thứ nhất, chính sách tài khóa luôn có độ trễ. Thứ hai, tăng GDP tổng đầu tư toàn xã hội lên 40% GDP để đạt mục tiêu 10% tăng trưởng ngầm định rằng ICOR = 4 (tức cần thêm 4 đơn vị đầu tư để tạo ra 1 đơn vị tăng trưởng) nhưng thực tế hệ số này thời gian qua ở mức 5 - 6, nhất là đầu tư từ khu vực nhà nước. Thứ ba, Việt Nam đã duy trì tỷ lệ đầu tư rất cao trong suốt 4 thập niên qua, vì vậy theo quy luật kinh tế, hiệu quả mang lại từ mỗi đồng đầu tư tăng thêm sẽ ngày càng giảm. Điều này giải thích vì sao những nền kinh tế thu nhập càng cao thì tốc độ tăng trưởng càng giảm.

Trong bối cảnh này, để tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, con đường sáng nhất là chuyển hóa cơ cấu của nền kinh tế. Về phương diện này, Việt Nam đang đứng trước 4 thách thức thường ít được nhắc đến một cách toàn diện và thấu đáo trong chương trình nghị sự cải cách.

Đầu tiên là về trụ cột quan trọng nhất - khoa học và công nghệ - vẫn sẽ thiếu sức sống nếu điều hành vĩ mô tiếp tục chú trọng mở rộng tài khóa và tiền tệ để phục vụ các mục tiêu trước mắt. Đảng chủ trương phát triển khoa học công nghệ bằng việc ban hành Nghị quyết 57, được xem như một trong bộ tứ trụ cột, nhưng đến nay hệ thống chính sách và cơ chế tài trợ cụ thể cho hoạt động R&D và đổi mới sáng tạo để tăng năng suất vẫn chưa hình thành.

Trục trặc cơ cấu thứ hai là sự phân hóa trong khu vực kinh tế tư nhân. Trong khi những tập đoàn tư nhân chiếm chưa tới 2% tổng số doanh nghiệp, được ưu ái thì sau Nghị quyết 68, chính sách vẫn chưa hướng đến doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) hiện chiếm khoảng 98% tổng lượng doanh nghiệp của nền kinh tế, chưa kể 5,2 triệu hộ kinh doanh. Chính sách không chạm đến lực lượng này còn dẫn đến rủi ro đối với khu vực tiêu dùng, hiện không chỉ đóng góp khoảng 60% GDP mà còn giúp giải quyết việc làm, ổn định kinh tế - xã hội. Thách thức thứ ba, có tính dài hạn, là hàm lượng giá trị gia tăng thấp của doanh nghiệp Việt Nam trong xuất khẩu, tuy được nhận diện song chưa được cải thiện.

Sau cùng là cơ cấu phân bổ nguồn lực theo khu vực địa lý. Đông Nam bộ đóng góp rất lớn về ngân sách, thu hút FDI, xuất khẩu… nhưng tỷ lệ đầu tư công vào cơ sở hạ tầng cho vùng thấp hơn rất nhiều so với đồng bằng sông Hồng. “Con gà đẻ trứng vàng” không được nuôi dưỡng mà bị tận thu, tận khai.

Lịch sử kinh tế thế giới cho thấy tăng trưởng của các quốc gia là cuộc đua đường trường. Hiểu sâu sắc điều này giúp quản trị quốc gia tránh sa đà vào những cuộc đua nước rút, bị thúc ép bởi tình thế hay những mục tiêu ngắn hạn. Nhìn vào quỹ đạo phát triển của kinh tế Việt Nam kể từ năm 1986, chúng ta chưa từng đạt được tốc độ tăng trưởng hai con số. Thêm nữa, chúng ta theo đuổi mục tiêu này khi thu nhập bình quân đầu người đã gần đạt ngưỡng trung bình cao, khác với Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc đều đạt tốc độ tăng trưởng hai con số ở giai đoan thu nhập bình quân đầu người còn tương đối thấp.

Thêm một bất lợi cho Việt Nam là thực hiện mục tiêu “hóa rồng” khi dân số đang lão hóa. Trong bối cảnh này, duy trì nhịp độ tăng trưởng khoảng 8%/năm sẽ bớt áp lực hơn đối với ổn định vĩ mô mà vẫn có thể đạt mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045. Về đích đúng hạn thì quá tốt, nhưng chậm hơn vài năm cũng không phải vấn đề quá lớn nếu nhìn từ chiều dài lịch sử đất nước. Điều thế hệ hiện nay phải quan tâm và có trách nhiệm là giảm rủi ro cho thế hệ tương lai từ góc độ quản trị quốc gia.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy cái giá phải trả có thể rất lớn. Chẳng hạn Thái Lan, đầu thập niên 1990 từng được kỳ vọng hóa rồng khi lặp lại quỹ đạo tăng trưởng của Hàn Quốc và Đài Loan. Tuy nhiên hành trình này dừng lại sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997. Song hành với bất ổn kinh tế là khủng hoảng xã hội và chính trị. Qua ba thập niên mất mát, Thái Lan vẫn chưa gượng dậy nổi.

Cơ cấu phân bổ nguồn lực theo khu vực địa lý chưa hợp lý cũng là một thách thức. Ảnh: Lý Anh Lam

Liên quan đến không gian phát triển quốc gia, cần đặt Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Việc Mỹ cấm vận công nghệ Trung Quốc, quy định ngặt nghèo về chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhằm kiểm soát trung chuyển qua nước thứ ba khiến chúng ta bị thu hẹp lựa chọn. Lĩnh vực thương mại cũng gặp khó khăn do chính sách thuế đối ứng. Dòng chảy hàng hóa chững lại trong ngắn hạn khiến một số doanh nghiệp dừng hoạt động… Bên cạnh những bất lợi, chiến tranh thương mại giữa hai “ông lớn” cũng mở ra những cánh cửa mới. Đầu tiên là khi hai bên càng mâu thuẫn (nhưng chưa tới mức bùng nổ), thì thế thương lượng của chúng ta cũng lớn hơn. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc chảy vào Việt Nam tăng vọt. Nếu khéo tận dụng cơ hội này, Việt Nam có thể xây dựng được chuỗi cung ứng và hệ thống sản xuất nội địa mà chúng ta mơ ước nhiều thập niên qua.

Mười năm tới có thể có tính chất quyết định với Việt Nam. Thời đại kinh tế số và dữ liệu đã đến. Có vẻ như lần này chúng ta có cơ hội xuất phát cùng nhịp với thế giới. Xây dựng được một thế hệ mới có trí tuệ, kỹ năng, khát vọng, bản lĩnh, phù hợp với yêu cầu của thời đại cũng chính là thước đo quan trọng nhất đối với thành công quản trị quốc gia trong Kỷ nguyên mới.

Còn kịp để bắt đầu lại từ giáo dục vốn đang bị trì níu. Chỉ cần hoàn trả cho giáo dục môi trường tự do, phần còn lại là vấn đề kỹ thuật. Lịch sử ghi nhận giáo dục nước nhà hai lần cất cánh. Kể từ khi nhà Lý lập Văn miếu, thi hành chế độ khoa cử du nhập từ Trung Hoa vào thế kỷ XI, dù nước ta nhiều lần bị phương Bắc xâm lăng nhưng thời gian đô hộ đều không vượt quá 20 năm, chấm dứt hoàn toàn “nghìn năm Bắc thuộc”. Lần thứ hai là giáo dục của người Pháp từ thế kỷ XIX. Những người đứng trên lễ đài Quảng trường Ba Đình ngày lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đa số được nuôi dưỡng hoặc chịu ảnh hưởng của giáo dục Pháp.

Mỗi lần nâng cấp giáo dục là một lần đất nước bước sang kỷ nguyên mới. Dân tộc đang đứng trước cột mốc nâng cấp thứ ba, đòi hỏi quyết tâm chính trị để cởi trói toàn diện cho hệ thống giáo dục quốc dân vì lợi ích quốc gia.

TS. Vũ Thành Tự Anh (giảng viên cao cấp Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright)

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/van-menh-cua-dan-toc-co-the-duoc-quyet-dinh-trong-thap-nien-toi-51592.html