VCCI đề xuất hỗ trợ doanh nghiệp giảm gánh nặng về định danh điện tử
Góp ý dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử do Bộ Công an soạn thảo, VCCI đề nghị thiết kế chính sách theo hướng tương xứng với rủi ro, bảo vệ bí mật kinh doanh và kiểm soát chi phí tuân thủ của doanh nghiệp.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản góp ý Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử theo đề nghị của Bộ Công an. VCCI đánh giá dự thảo là bước tiến quan trọng trong việc luật hóa nền tảng nhận diện số quốc gia.
Tuy nhiên, do phạm vi tác động rộng, liên quan tới nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, sản phẩm và giao dịch, VCCI đề nghị Ban soạn thảo lưu ý 6 nguyên tắc: tương xứng với rủi ro; kế thừa, không định danh lại; trung lập công nghệ và tương thích quốc tế; cạnh tranh bình đẳng; bảo vệ bí mật kinh doanh; và bảo đảm chi phí tuân thủ khả thi.
Đặc biệt, VCCI đề nghị đánh giá định lượng chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, liên quan đến các nghĩa vụ gắn nhãn, đồng bộ dữ liệu, lưu trữ nhật ký và kết nối hệ thống.
Không nên buộc doanh nghiệp định danh toàn bộ chuỗi cung ứng
Từ những nguyên tắc trên, VCCI đưa ra một số góp ý cụ thể.
Về liên kết danh tính điện tử và bảo vệ bí mật kinh doanh, VCCI lưu ý khoản 2, khoản 3 Điều 19 của Dự thảo quy định liên kết danh tính điện tử của hàng hóa, tài sản, giao dịch với danh tính của tất cả cá nhân, tổ chức có quyền sở hữu hoặc quản lý và tất cả các bên tham gia, gắn với thời gian, địa điểm, không gian xảy ra. Khoản 4 Điều 22 tiếp tục yêu cầu xác thực đồng thời thông tin liên kết với tất cả các bên liên quan.
Theo VCCI, trong chuỗi cung ứng nhiều tầng, doanh nghiệp thường không nắm được và cũng không có quyền yêu cầu thông tin định danh của toàn bộ các bên ở các mắt xích phía trên hoặc phía dưới. Do đó, yêu cầu liên kết “tất cả các bên” có thể khó khả thi.

Ảnh minh họa.
Bên cạnh đó, thông tin về đối tác, dòng hàng, thời điểm và địa điểm giao dịch là dữ liệu thương mại quan trọng, phản ánh mạng lưới kinh doanh và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc liên kết, truy vết tập trung đặt ra yêu cầu cao về bảo mật và giới hạn mục đích khai thác.
VCCI đề nghị chỉ bắt buộc liên kết trong phạm vi các bên trực tiếp của giao dịch, không mở rộng tới toàn bộ chuỗi cung ứng. Đồng thời, cần bổ sung quy định riêng về bảo vệ bí mật kinh doanh và thông tin thương mại nhạy cảm, trong đó xác định rõ chủ thể được tiếp cận, mục đích, thời hạn lưu trữ và trách nhiệm khi xảy ra lộ lọt dữ liệu...
Phân bổ trách nhiệm theo khả năng kiểm soát
Về trách nhiệm pháp lý và phân bổ rủi ro, VCCI cho rằng đây là vấn đề đặc biệt quan trọng với các tổ chức tín dụng, trung gian thanh toán và nền tảng thương mại điện tử.
Khoản 4 Điều 44 quy định tổ chức, cá nhân sử dụng kết quả định danh và xác thực từ hệ thống trí tuệ nhân tạo “chịu trách nhiệm cuối cùng về quyết định của mình”. VCCI nhận định bên sử dụng dịch vụ thường không có khả năng kiểm chứng độ chính xác kỹ thuật của hệ thống mà mình kết nối.
Vì vậy, nếu doanh nghiệp đã thực hiện đúng quy trình, đúng mức độ xác thực theo quy định nhưng vẫn phát sinh sai sót do lỗi hệ thống hoặc thủ đoạn giả mạo vượt qua biện pháp kỹ thuật hiện hành, việc quy trách nhiệm cuối cùng cho bên sử dụng là chưa phù hợp với nguyên tắc phân bổ rủi ro theo khả năng kiểm soát.
VCCI đề nghị bổ sung cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho bên sử dụng dịch vụ ngay tình. Theo đó, tổ chức, cá nhân đã thực hiện xác thực điện tử đúng quy định, với mức độ phù hợp với tính chất giao dịch, thì không phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do kết quả xác thực không chính xác, trừ trường hợp có lỗi.
Trách nhiệm khi đó thuộc về tổ chức thực hiện hoạt động xác thực theo cam kết dịch vụ và quy định pháp luật. Theo VCCI, cơ chế này sẽ tạo động lực để doanh nghiệp mạnh dạn sử dụng xác thực điện tử thay cho các biện pháp kiểm tra thủ công.
Đối với Điều 37, VCCI lưu ý dự thảo quy định tổ chức cung cấp dịch vụ định danh điện tử phải thông báo cho Bộ Công an trước khi cung cấp dịch vụ, nhưng chưa làm rõ đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện được quản lý bằng giấy phép hay cơ chế thông báo kết hợp hậu kiểm.
VCCI đề nghị quy định ngay trong Luật cơ chế quản lý, thẩm quyền, hồ sơ, thời hạn xử lý và các trường hợp từ chối, thu hồi. Các tiêu chí như “năng lực tài chính bảo đảm duy trì hoạt động liên tục”, “nhân sự chuyên trách đáp ứng yêu cầu về chuyên môn kỹ thuật” cũng cần được lượng hóa hoặc làm rõ để tránh khoảng trống trong thực thi.
Đồng thời, cần có cơ chế liên thông với Luật Giao dịch điện tử, theo hướng tổ chức đã được cấp phép cung cấp dịch vụ tin cậy được kế thừa kết quả thẩm định đối với các điều kiện tương đương, không phải chứng minh lại từ đầu.
VCCI cũng đề nghị việc kết nối với Hệ thống định danh và xác thực điện tử được thực hiện thông qua giao diện lập trình ứng dụng mở, tiêu chuẩn công bố công khai, kèm cam kết về chất lượng dịch vụ và thời hạn xử lý yêu cầu kết nối. Đây được xem là điều kiện quan trọng để tạo môi trường minh bạch, cạnh tranh và thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia hệ sinh thái định danh số.

