VCCI: Kinh tế tư nhân sẵn sàng bứt phá sau một năm thực hiện Nghị quyết 68
Theo Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025, bối cảnh thực thi Nghị quyết 68 ghi nhận nhiều chuyển dịch lớn có tác động trực tiếp đến môi trường kinh doanh.

Bức tranh kinh tế tư nhân năm 2025 cho thấy những tín hiệu hồi phục mạnh mẽ sau giai đoạn đầy thử thách 2023-2024. (Ảnh: Vietnam+)
Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 4/5/2025 đã khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Trong năm 2025, tiến độ thực thi được triển khai quyết liệt với 95,3% nhiệm vụ trọng tâm của năm được hoàn thành, đi kèm với hệ thống giám sát minh bạch theo thời gian thực.
Theo Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025, bối cảnh thực thi Nghị quyết 68 ghi nhận nhiều chuyển dịch lớn có tác động trực tiếp đến môi trường kinh doanh. Việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh từ 63 xuống còn 34, cùng sự chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đã tạo ra một không gian quản lý mới và đòi hỏi những tư duy phát triển đột phá cho khu vực kinh tế này.
Sự chuyển dịch vĩ mô
Bức tranh kinh tế tư nhân năm 2025 cho thấy những tín hiệu hồi phục mạnh mẽ sau giai đoạn đầy thử thách 2023-2024. Tính đến hết năm 2025, cả nước đã có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, ghi nhận mức tăng trưởng 6,6% về số lượng. Nếu tính cả khoảng 6,1 triệu hộ kinh doanh, khu vực tư nhân hiện đang là nơi tạo ra sinh kế cho khoảng 26 triệu lao động, đóng góp hơn 50% tổng số việc làm của cả nước.
Đặc biệt, niềm tin về triển vọng kinh doanh đã được củng cố khi số lượng gia nhập thị trường đạt mức kỷ lục gần 297.500 doanh nghiệp, tăng tới 27,4% so với năm trước. Thêm vào đó, có đến 85,7% doanh nghiệp khẳng định sẽ tiếp tục duy trì hoặc mở rộng quy mô hoạt động, phản ánh tâm thế sẵn sàng cho một giai đoạn bứt phá mới.
Phân tích về những kết quả này, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký kiêm Trưởng Ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhấn mạnh rằng năm 2025 không chỉ là năm của những con số tăng trưởng mà còn là năm của những thay đổi căn bản về triết lý lập pháp. Ông cho rằng, sự thể chế hóa mạnh mẽ các chủ trương thúc đẩy kinh tế tư nhân thông qua Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị, sau đó được cụ thể hóa bằng Nghị quyết 198 của Quốc hội và các Nghị quyết 138, 139 của Chính phủ, đã tạo ra một hệ sinh thái pháp lý theo hướng kiến tạo.
Bối cảnh thực thi Nghị quyết ghi nhận nhiều chuyển dịch lớn có tác động trực tiếp đến môi trường kinh doanh. Cụ thể, lộ trình bãi bỏ phương pháp thu thuế khoán từ 1/1/2026 đặt ra yêu cầu hàng triệu hộ kinh doanh phải chuyển đổi số, sử dụng hóa đơn điện tử và minh bạch tài chính. Dòng vốn ngân sách Nhà nước cũng được mở rộng trực tiếp cho khối tư nhân thông qua quy định dành riêng toàn bộ các gói thầu xây lắp, mua sắm dưới 20 tỷ đồng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Về mặt bằng sản xuất, Nghị định số 20/2026/ NĐ-CP tạo bối cảnh thuận lợi khi bắt buộc các chủ đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp dành tối thiểu 20ha hoặc 5% diện tích cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê lại với giá ưu đãi.
Theo đó, sự phản hồi tích cực từ cộng đồng kinh doanh cùng sự vào cuộc đồng bộ của các hiệp hội doanh nghiệp đang định hình một môi trường kinh doanh năng động và cởi mở hơn. Đặc biệt, bối cảnh này càng trở nên cấp thiết khi Đảng và Nhà nước xác lập quyết tâm chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên tăng trưởng ‘hai con số’ (từ 10%/năm trở lên) cho giai đoạn 2026-2030. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân được định vị là động lực nội sinh then chốt để hiện thực hóa khát vọng này với mục tiêu chiến lược đạt ít nhất 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030.
Theo ông Tuấn, việc hoàn thành 95,3% nhiệm vụ trọng tâm của năm đầu trong triển khai Nghị quyết 68, đi kèm hệ thống giám sát minh bạch theo thời gian thực, chính là minh chứng cho sự quyết liệt của bộ máy quản lý trong việc đồng hành cùng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, dù đã có những bước tiến dài về quy mô, cấu trúc của khu vực tư nhân Việt Nam vẫn mang đặc trưng “đông nhưng nhỏ." Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 chỉ ra phần lớn doanh nghiệp vẫn duy trì quy mô vốn và lao động hạn chế trong thời gian dài, quá trình mở rộng diễn ra khá chậm. Điều này một phần xuất phát từ lịch sử phát triển khi có tới 61,9% doanh nghiệp tham gia khảo sát vốn được chuyển đổi từ mô hình hộ kinh doanh. Những hạn chế mang tính nền tảng này khiến khu vực tư nhân dễ bị tổn thương hơn trước các biến động của thị trường quốc tế, đặc biệt là khi các rào cản về thuế quan và các yêu cầu tuân thủ mới trong tiếp cận thị trường toàn cầu ngày càng trở nên khắt khe.

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký kiêm Trưởng Ban Pháp chế VCCI, nhấn mạnh rằng năm 2025 không chỉ là năm của những con số tăng trưởng mà còn là năm của những thay đổi căn bản về triết lý lập pháp. (Ảnh: Vietnam+)
Tháo gỡ những điểm nghẽn mang tính cấu trúc
Kết quả chung từ báo cáo cho thấy khu vực doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động, song triển vọng phục hồi và mở rộng còn thận trọng. Đa số doanh nghiệp dự kiến có lãi nhưng chủ yếu ở mức “lãi chút ít,” tỷ lệ doanh nghiệp kỳ vọng đạt “lãi như kế hoạch” hạn chế. Mặt khác, nhóm dự kiến thua lỗ hoặc có kế hoạch thu hẹp/đóng cửa vẫn hiện hữu. Tâm lý ưu tiên ổn định thể hiện ở việc phần lớn doanh nghiệp có xu hướng giữ nguyên quy mô trong trung hạn, phản ánh mức độ bất định cao của môi trường thị trường và chi phí.
Báo cáo nhận diện một số điểm nghẽn đang cản trở đà phát triển của doanh nghiệp. Đáng lưu ý nhất là áp lực về thị trường đầu ra khi có tới 60,2% doanh nghiệp cho biết gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng. Sự sụt giảm sức cầu diễn ra ở cả thị trường quốc tế lẫn nội địa, khiến bài toán tăng trưởng doanh thu trở nên thách thức hơn bao giờ hết.
Điểm nghẽn thứ hai, cũng là vấn đề nan giải nhất, chính là khả năng tiếp cận vốn. Số liệu khảo sát cho thấy 75,5% doanh nghiệp khẳng định không thể vay vốn nếu thiếu tài sản bảo đảm. Với tỷ lệ khoản vay yêu cầu thế chấp lên tới 93,5%, cao hơn đáng kể so với các nước trong khu vực như Malaysia hay Thái Lan, các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đang rơi vào tình thế khó chồng khó khi nguồn lực tích lũy còn mỏng.
Bên cạnh vốn và thị trường, chi phí không chính thức và tính minh bạch của chính sách cũng là những lực cản đáng kể. Khoảng 26% doanh nghiệp vẫn phản ánh phát sinh chi phí khi xin giấy phép kinh doanh, cao gấp gần ba lần mức trung bình của khu vực. Trong khi đó, khả năng dự báo chính sách của doanh nghiệp lại rất thấp, phần lớn phải dựa vào các kênh thông tin không chính thức như mạng xã hội để nắm bắt các dự thảo văn bản pháp luật. Điều này không chỉ gây ra rủi ro về sai lệch thông tin mà còn làm giảm khả năng chủ động trong việc điều chỉnh kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.
Dưới góc nhìn hộ kinh doanh, báo cáo chỉ ra khu vực này đang đối mặt với áp lực chi phí và biến động thị trường tương tự doanh nghiệp nhưng mức độ dễ tổn thương cao hơn. Có đến 81,5% hộ ghi nhận doanh thu sụt giảm trong năm qua. Lộ trình minh bạch hóa và triển khai hóa đơn điện tử vừa là động lực nâng cấp quản trị, vừa đặt ra thách thức về chi phí tuân thủ. Để giải quyết các vấn đề này, báo cáo đã được giới thiệu với những điều chỉnh phương pháp luận nhằm đo lường sát hơn chất lượng điều hành trong không gian hành chính mới, giúp nhận diện rõ hơn các "điểm nghẽn" điều hành tại địa phương.
Với mục tiêu hướng tới 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, ông Tuấn chia sẻ những đề xuất quan trọng nêu trong báo cáo VCCI. Đầu tiên là hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, xúc tiến thương mại và tăng liên kết chuỗi cung ứng trong nước-quốc tế. Thứ hai là cải thiện tiếp cận vốn theo hướng giảm phụ thuộc tài sản thế chấp, mở rộng bảo lãnh tín dụng và đa dạng hóa kênh tài chính.
Cùng với đó là nâng cao minh bạch, ổn định và khả năng dự báo của chính sách, mở rộng tham vấn và bảo đảm tiếp cận kịp thời dự thảo văn bản. Tiếp đến là đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường, cải thiện chất lượng thực thi và kiểm soát chi phí không chính thức, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo hướng phân tầng, phát triển nhân lực số và hệ sinh thái đổi mới. Cuối cùng là tạo môi trường thuận lợi để hộ kinh doanh chuyển đổi bền vững, phù hợp lộ trình minh bạch hóa và hóa đơn điện tử, qua đó mở rộng khu vực doanh nghiệp chính thức và nâng cao năng suất dài hạn./.











