Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung
Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.
Hình ảnh vó ngựa chở hoa đào thật đẹp, thật nên thơ, nhưng với quãng đường dài đến gần 700 km theo đường quốc lộ ngày nay, mà thời xưa phải đi đến cả chục ngày mới tới, thì cũng không thực tế lắm. Ấy là khi đất nước vừa tan khói súng. Nên nhớ sau đó, dưới thời Vua Gia Long, khi đất nước yên bình, quy định ngựa dịch trạm của triều đình nhà Nguyễn từ thành Thăng Long về đến Phú Xuân ở mức thần tốc cũng mất đến 8 ngày và 8 đêm.

Hình vẽ minh họa ngựa dịch trạm thời xưa
Nhưng không sao. Nhân dân vẫn cần những giai thoại thơ mộng như vậy. Hay là trong nhạc cũng vậy. Hẳn nhiều người vẫn còn có thể ngân nga ca khúc “Đoàn quân Quang Trung” của nhạc sĩ Xuân Giao, mô tả: “Đường ra Bắc lấp ló vó ngựa đua phi. Mùa xuân đến tiếng hát theo đoàn quân đi. Hẹn một mai giữa Thăng Long chiến thắng. Cùng vui xuân nổ pháo giữa kinh kỳ…”.
Chuyện “bước chân thần tốc” của đoàn quân Tây Sơn hiện nay vẫn còn nhiều người thắc mắc. Như giai thoại “hai người lính hành quân bộ cáng một người lính nghỉ” có lẽ chỉ là sản phẩm tưởng tượng của hậu thế. Còn hành quân là có voi, có ngựa, để trong các trận đánh lớn, sử ghi Vua Quang Trung ngồi bành voi, như trong trận Ngọc Hồi, cho đến khi khải hoàn dong quân vào thành, sử nhà Nguyễn, bộ “Đại Nam liệt truyện”, cũng phải ghi “áo chiến của Huệ mặc đều bị hơi thuốc súng làm cho biến thành sắc đen sạm”.
Ít nhất là lúc không đánh trận, sử sách nói Vua Quang Trung có cưỡi ngựa ở đất Thăng Long. Như trong bộ tiểu thuyết lịch sử “Hoàng Lê nhất thống chí”, khi tả cảnh Nguyễn Huệ lần đầu ra Bắc đánh tan cơ nghiệp của chúa Trịnh Khải với danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”, bảo vệ Vua Lê Hiến Tông, rồi đón Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc từ trong Nam ra Thăng Long, đã tả hai anh em vua Tây Sơn đều đi ngựa.
Bộ tiểu thuyết của Ngô gia văn phái tả rằng:
“Lúc vua Tây Sơn mới đến kinh, Bình (tức Nguyễn Huệ, còn có tên là Nguyễn Bình) cưỡi ngựa ra tận ngoài ô đón tiếp và tạ cái tội tự chuyên của mình. Vua Tây Sơn nói:
- Tướng ở bên ngoài, nếu gặp việc có ích lợi cho nước nhà thì cứ tự ý mà làm cũng được.
Rồi hai anh em cùng gióng ngựa đi vào thành”.
Về đến phủ, Nguyễn Huệ dắt người vợ mới cưới là Công chúa Ngọc Hân ra chào và nói hết cả sự thật với anh. Vua Tây Sơn khen:
- Chà, em vua Tây Sơn làm rể vua nước Nam, "môn đương hộ đối" mối nhân duyên đẹp thật!
Một câu chuyện nữa kể về việc Vua Thái Đức ra Bắc, là Vua Lê Chiêu Thống nghe cũng ra đón, thậm chí còn định dâng ngọc tỷ xin hàng. “Hoàng Lê nhất thống chí” kể rằng:
“Lúc vua Tây Sơn tới nơi, Hoàng thượng thân hành ra đón ở cửa ô phía Nam. Ngài đứng ở trong cửa ô, sai hoàng thân là Thanh Nguyên hầu quỳ ở mé bên trái đường đi, để chào và nói thay hoàng thượng. Vua Tây Sơn khi qua cửa ô không đáp lễ, cứ giục ngựa đi thẳng và cho một người quay lại nói rằng:
- Quả quân thấy nhà vua lễ độ quá, sợ rằng nếu xa giá ở lại chậm trễ, hoặc giả làm phiền cho quý thể phải quỳ lạy mệt nhọc, rồi quả quân lại mang tiếng là thất lễ. Bởi thế, quả quân phải vội vã đi ngay. Xin ngự giá hãy cứ về cung, ngày khác thong thả sẽ cùng gặp nhau.
Hoàng thượng thấy vậy, biết Vua Tây Sơn còn ưu đãi mình, nên khi về cung không bàn đến việc đầu hàng nữa”.

Khoảng cách từ thăng long đến phú xuân đặt câu hỏi về thời gian truyền tin
Chuyến ra Bắc đó, Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc hành quân trên lưng ngựa cũng với tốc độ thần tốc, chỉ dùng một toán nhỏ kỵ binh. Về chuyện ngựa, thì Nguyễn Nhạc mới được nhắc đến về một con ngựa quý, đứng đầu trong 5 con “thần mã” liên quan đến nhà Tây Sơn. Danh sách này đã được danh sĩ Đinh Sĩ An, một người nổi danh về văn học, quê ở Bình Khê (Bình Định cũ, nay là Gia Lai), là người từng làm việc ở Nội các của Vua Quang Trung, ghi trong sách “Tây Sơn nhân vật chí”. Năm con thần mã đó lần lượt có tên là Bạch Long, Xích Kỳ, Ô Du, Ngân Câu, Hồng Lư.
Theo mô tả trong sách của Đinh Sĩ An thì Bạch Long Câu (“câu” nghĩa là ngựa tốt) là con tuấn mã thuộc loại "Ngựa Hạc", có dáng chân cao, mình thon, dáng đẹp và dũng mãnh. Ngựa có lông trắng như tuyết, bờm và đuôi lông dài mượt như tơ, chạy nhanh như gió, nhẹ nhàng như bay. Lúc ngựa phi xa trông như một làn mây trắng vút qua. Nó nguyên là con ngựa chúa trong bầy ngựa rừng trên núi Hiển Hách, miền An Khê, được ông Nguyễn Nhạc dụ về và thuần dưỡng, tập luyện thành một chiến mã rất tinh khôn, nhanh nhẹn và giỏi chiến trận. Bạch Long đã gắn bó với Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc như hình với bóng suốt cả cuộc trường chinh, khi vào Nam, lúc ra Bắc, diệt chúa Trịnh, thắng chúa Nguyễn, đuổi quân Xiêm.
Năm 1793, Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc mất. Theo truyền thuyết, Bạch Long Câu ban đêm vượt tàu ngựa chạy thẳng một mạch về núi Hảnh Hót. Từ đó rừng núi Hảnh Hót đêm đêm vang tiếng ngựa thần hí lên nhớ người chúa cũ. Về sau người trong vùng không còn ai dám nuôi ngựa trắng nữa và vinh danh con chiến mã Bạch Long là Thần Mã.
Chắc rằng trên đường hành quân từ miền Trung ra đất Bắc, Vua Thái Đức cũng phải đổi ngựa liên tục, và những chú ngựa của nhà vua cũng đều phải là tuấn mã để có thể đảm đương hành trình nghìn dặm như vậy.
Riêng lần thứ hai Nguyễn Huệ ra Bắc tháng 4/1788 để bắt Vũ Văn Nhậm, người được cử ra diệt Nguyễn Hữu Chỉnh nhưng rồi lại chuyên quyền, tự tung tự tác không khác gì Chỉnh trước đó, sử sách ghi rõ Nguyễn Huệ cưỡi ngựa.
Bộ sử của triều Nguyễn, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, viết rằng: Sau khi được Ngô Văn Sở mật báo, Văn Huệ bèn chính mình đốc suất thân binh ruổi ra Thăng Long. Văn Nhậm ra đón. Văn Huệ vỗ về an ủi bằng lời ôn tồn, rồi sai đem ngựa đang cưỡi và lọng đang che nhường cho Văn Nhậm. Khi đã vào đến trong thành, Văn Huệ sai người trói Văn Nhậm ngay ở trước sân”.
Như vậy lần ra Bắc này, Nguyễn Huệ đi tương đối thong thả, có đầy đủ nghi vệ, vì có cả “lọng đang che”, chứ không phải tiến quân thần tốc như lần trước và lần ra diệt quân Thanh sau đó.
Còn trong chiến dịch lịch sử mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1789), “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái đã tả lại sự thần tốc của đoàn quân Tây Sơn bằng những dòng đầy ấn tượng: “Quân Tây Sơn “đi nhanh như gió”, xuất hiện như sấm sét giữa trời đông, khiến đối phương không kịp trở tay”. Tốc độ đã trở thành yếu tố quyết định của chiến dịch, và để tạo nên tốc độ ấy, ngoài tổ chức chỉ huy tài tình, không thể không nhắc đến sức cơ động của kỵ binh Tây Sơn.
Không được mô tả bản thân gắn với con ngựa cụ thể nào như vua anh Nguyễn Nhạc, nhưng Nguyễn Huệ cũng gắn với truyền thuyết về đàn ngựa núi Hinh Hốt. Đó là câu chuyện về việc để thu phục người Xê Đăng, Nguyễn Huệ đã tìm cách thuần phục đàn ngựa trên núi Hinh Hốt. Người Xê Đăng tận mắt chứng kiến việc Nguyễn Huệ có thể điều khiển được đàn ngựa này hết sức lạ lùng, ngạc nhiên. Họ cho rằng ông Huệ là người nhà trời, nên đã rước kiệu ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ về buôn làng mổ trâu ăn mừng. Từ đó trong đội quân Tây Sơn có rất nhiều chiến binh quả cảm người dân tộc Xê Đăng, họ đã góp phần vào chiến thắng vang dội, đánh tan hơn 20 vạn quân Thanh vào Tết Kỷ Dậu (1789).

Tượng đài vua Quang Trung ở Quy Nhơn (Gia Lai)
Đến tận khi qua đời, Vua Quang Trung cũng vẫn còn để lại câu chuyện liên quan đến ngựa. Đó là cuối tháng 9 năm 1792, khi nhà vua ốm nặng, đã gọi Trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về Phú Xuân, dặn dò cùng nhau giúp Thái tử Quang Toản sớm thiên đến Vĩnh Đô (tức thành Phượng Hoàng ở Vinh, Nghệ An) để khống chế thiên hạ. “Đại Nam liệt truyện” viết rằng: “Bọn Diệu cùng khóc vâng nhận mệnh lệnh, sai giết con ngựa trắng để thề”.
Ngoài ra, Vua Quang Trung còn để lại hình ảnh trên lưng ngựa, trong một bức tranh chân dung được tìm thấy bên Trung Quốc. Đó là hình ảnh một viên dũng tướng cưỡi ngựa trắng, đội mũ trụ và mặc áo giáp kiểu nhà Thanh. Xuất phát từ chuyện sau khi đánh thắng quân của Tôn Sĩ Nghị, Vua Quang Trung muốn kết lại mối bang giao với nhà Thanh, đã dâng biểu xin cầu phong vương. Nhân sự kiện lễ “bát tuần đại khánh” của Vua Càn Long năm 1790, Vua Càn Long gợi ý Vua Quang Trung sang chầu. Vua Quang Trung không chịu, được nhà Thanh gợi ý có thể chọn một người có hình mạo gần giống, làm “giả vương” sang cũng được. Do đó, sử sách ghi rằng Vua Quang Trung sai Phạm Quang Trị đóng giả mình sang Trung Quốc, được triều đình nhà Thanh đón tiếp vô cùng trọng thị.
Sử nhà Nguyễn ghi về việc Vua Càn Long sai vẽ tranh Quang Trung rằng: “Khi đến dưới bệ để từ biệt về nước, vua Thanh vời đến gần bên chỗ ngồi, thân mật vỗ vai an ủi phủ dụ ôn tồn, sai họa công vẽ hình mà ban cho”.

Tranh vẽ vua Quang Trung (họa sĩ Vi Vi)
Bức chân dung được xuất bản ở Việt Nam từ năm 1931 trên “Đông Thanh tạp chí”, và đến năm 1968 được in làm bìa “Tập san sử địa” xuất bản Tết Mậu Thân, 1968. Hình ảnh từ bức này cũng được họa sĩ sử dụng để thiết kế tờ tiền 200 đồng của chế độ miền Nam năm 1966, với mặt trước là chân dung nhà vua, mặt sau là hình ảnh nhà vua ngồi trên lưng ngựa đang vung gươm dẫn đầu đoàn quân chiến đấu, với lá cờ hiệu có hai chữ “Quang Trung” bằng chữ Hán phía trước.
Mặc dù vậy, thì đến gần đây, các nhà nghiên cứu đã tìm khắp các tài liệu từ nhà Thanh để lại, đã không thấy dấu hiệu nào chứng tỏ bức tranh viên tướng mặc giáp trụ cưỡi ngựa nói trên chính là Vua Quang Trung. Nhiều khả năng đó là chân dung Vua Càn Long lúc trẻ, mà đời sau ngộ nhận. Một bức chân dung khác, mô tả Vua Quang Trung mặc trang phục cấp thân vương, với đầy đủ bút tích ngự phê và ấn triện của Vua Càn Long, có lẽ mới là bức tranh mà sử sách nhắc đến.
Dù sao thì hậu thế vẫn luôn nhớ đến hình ảnh Vua Quang Trung là một dũng tướng gắn liền với thanh gươm và yên ngựa, như bức tượng ngài mặc giáp trụ, cưỡi ngựa vung gươm do nhà điêu khắc Lưu Danh Thanh sáng tác, đặt tại công viên Quang Trung ở Quy Nhơn. Đó là hình ảnh tiêu biểu cho tinh thần của người anh hùng dân tộc áo vải cờ đào, đã trải vó ngựa của mình xuôi Nam ngược Bắc, khiến quân thù khiếp sợ.
Nguồn ANTG: https://antg.cand.com.vn/tu-lieu-antg/vo-ngua-cua-hoang-de-quang-trung-i799750/











