Vua Bà hiển linh
1778 năm đã trôi qua, biết bao sự kiện lịch sử đã diễn ra, nhưng ý nghĩa và giá trị của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu và hình ảnh người con gái diễm lệ, kiên trung bất khuất, ngồi trên đầu voi đánh đuổi kẻ thù xâm lược vẫn còn in đậm mãi trong tâm khảm mỗi người dân.

Ban đầu, đền thờ Bà Triệu (thôn Phú Điền, xã Triệu Lộc) được dựng bằng tranh tre nứa lá. Qua nhiều giai đoạn lịch sử, đền được tu bổ, tôn tạo khang trang đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân và khách thập phương.
Người con gái kiên trung
Triệu Thị Trinh, sinh năm Bính Ngọ (226), tại vùng núi Quan Yên (Quân Yên), quận Cửu Chân nay thuộc xã Định Tân. Lớn lên trong một gia đình hào trưởng, cô gái họ Triệu từ nhỏ đã có chí khí hơn người.
Căm giận trước sự tàn bạo của quân Đông Ngô cướp nước, Triệu Thị Trinh và anh trai Triệu Quốc Đạt quyết tâm dựng cờ khởi nghĩa. Sau một thời gian bí mật vận động, chuẩn bị lực lượng, tích trữ lương thảo, hai anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh cùng nghĩa quân rời quê nhà Quan Yên vượt sông Chu đến vùng núi Nưa nơi có vị thế vô cùng hiểm yếu để lập căn cứ, chiêu mộ thêm binh lực, luyện tập võ nghệ, triển khai binh pháp, mở rộng địa bàn hoạt động xuống miền đồng bằng, dựng cờ khởi nghĩa. Đó là năm 248, Triệu Thị Trinh vừa mới 19 tuổi.
Khởi binh, từ căn cứ Ngàn Nưa nghĩa quân đã tấn công chiếm thành Tư Phố. Nhanh chóng giành thắng lợi, nghĩa quân tiếp tục vượt sông Mã xuống vùng Bồ Điền để xây dựng thêm căn cứ địa. Lựa chọn nơi này bởi địa hình tự nhiên thuận lợi cho thế “công” lẫn “thủ”. Sau khi người anh là Triệu Quốc Đạt lâm bệnh mất, nghĩa quân tôn Triệu Thị Trinh làm thủ lĩnh toàn quyền, với danh xưng Nhụy Kiều tướng quân.
Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu ngày càng lớn mạnh, từ Cửu Chân đến Giao Chỉ và lan nhanh khắp các quận còn lại. Các thành lũy lần lượt bị hạ. Thứ sử Giao Châu bị giết. Trước tình hình nguy cấp, vua Đông Ngô liền cử viên tướng Lục Dận sang làm Thứ sử Giao Châu, mang theo 8.000 quân để đàn áp cuộc khởi nghĩa Bà Triệu. Mặc dù dũng cảm chống trả, nhưng cuối cùng căn cứ Bồ Điền bị tàn phá, nghĩa quân tan vỡ. Ngày 22/2 năm Mậu Thìn (248), Bà Triệu lên núi Tùng bên dòng sông Âu, quỳ xuống vái trời đất rằng “Sinh vi tướng, tử vi thần” (Sống làm tướng, chết làm thần) rồi rút gươm tự vẫn lúc mới 23 tuổi.
Vua Bà linh thiêng
Trong tâm thức dân gian xứ Thanh, Triệu Thị Trinh anh hùng luôn có vị thế riêng biệt, gần gũi và linh thiêng, với những câu chuyện kỳ lạ không bao giờ dứt... và đã được suy tôn với các mỹ danh: Vua Bà, Bà Vương, Nữ Vương, Lệ Hải Bà Vương...
Trong rất nhiều trang chính sử thì “Thanh Hóa kỷ thắng” do Tổng đốc Thanh Hóa Vương Duy Trinh biên soạn bằng chữ Hán vào đầu thế kỷ XX tập trung tư liệu đầy đủ nhất về Bà Triệu và cuộc khởi nghĩa năm 248. Ông đã dành 1090 chữ Hán trên tổng số 27.000 chữ Hán để chuyển tải nội dung phong phú về Bà Triệu, với những tư liệu được chắt lọc qua thư tịch cổ của Việt Nam, Trung Quốc, cùng các tư liệu dân gian, truyền miệng, được thu thập sưu tầm tại các địa phương ở Thanh Hóa.
Ngoài tư liệu chính sử, nơi nào bà đi qua, người dân sau này cũng lập miếu thờ, đền thờ. Trong đó, 3 ngôi đền linh thiêng của xứ Thanh, là nơi quê nhà, trên núi Quan Yên (xã Định Tân) có Khu Di tích lịch sử đền Trúc và đền thờ Bà Triệu; ở chân núi Nưa (xã Tân Ninh) có Khu Di tích, thắng cảnh nổi tiếng núi Nưa - đền Nưa - Am Tiên; và ở nơi vua bà quyên sinh, đền thờ Bà Triệu ở thôn Phú Điền (xã Triệu Lộc)... ngày đêm tỏa khói hương thơm.
Không chỉ được phong “Thần”, Bà Triệu còn đi vào các truyền thuyết, huyền tích sống mãi trong tâm thức Nhân dân. Tương truyền, ngay từ khi sinh ra, nữ nhi họ Triệu có tướng mạo kỳ lạ. Lớn lên, “người nàng cao lớn khỏe mạnh, đặc biệt đôi vú dài đến năm thước, có tài võ nghệ, một mình địch nổi nhiều người. Vài mẫu ruộng nàng chỉ cày nửa buổi là xong” (Tuyển tập Truyền thuyết Thanh Hóa, NXB Thanh Hóa, 2018).
Rồi chuyện thu phục con voi trắng một ngà, sau này trở thành người bạn trung thành của vị nữ tướng trên khắp mọi nẻo đường chinh chiến. Chuyện cá chép (lý ngư) thành tinh để quấy phá dân làng, bắt đàn bà con gái, dâng nước phá hoại mùa màng. Bỗng một hôm, trời đang sáng chuyển gió, mù mịt tối như đêm ba mươi. Trong gió bão nghe có tiếng gươm khua, tiếng gầm thét của lý ngư. Tương truyền là do Bà Triệu thỉnh thần Tản Viên về trị loài thủy quái. Vì thế, khi bà chết, dân quanh vùng Na Sơn – núi Nưa thường thấy xuất hiện một nữ tướng tuổi mười chín, đôi mươi đẹp tựa tiên sa, ngồi trên bành voi trắng, hai bên có hai thị nữ cưỡi ngựa cắp gươm theo hầu, đằng sau là hàng ngàn tướng sĩ. Dân chúng bèn xây trên đỉnh núi Nưa một am thờ gọi là Am Tiên.
Sau này, bà còn nhiều lần hiển linh giúp dân giúp nước. Năm Lý Bôn khởi nghĩa, ông mộng thấy Bà Triệu hẹn giúp sức tiêu diệt quân tướng nhà Lương. Quả nhiên, trong một trận giao tranh bỗng có cơn gió lốc nổi lên khiến quân giặc tối tăm mặt mũi, bị quân ta đánh cho tan tác. Lý Bôn lên ngôi, lập nước là Vạn Xuân, xưng là Lý Nam Đế. Nhớ ơn bà, nhà vua đã sai lập đền thờ, xây mộ bà ở làng Phú Điền (xã Triệu Lộc).

Những ngày diễn ra lễ hội, từ ngày 8 - 10/4/2026 (tức ngày 21 - 23 tháng 2 âm lịch), tại Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Đền Bà Triệu, xã Triệu Lộc rất đông người dân đến dâng hương, vãn cảnh.
Đến đời vua Tự Đức, theo lệ vua, các huyện miền núi cứ 3 năm phải tiến một con hươu. Năm ấy, đến lượt huyện Nông Cống, tri huyện Cao Bá Đạt lo lắng vì cả tháng trời rồi nhưng mà phường săn giăng bẫy chẳng được con hươu nào. Ông cho sắm sửa lễ vật thỉnh cầu: Bà là người có công đánh giặc Ngô, đức độ công lao đời đời truyền tụng. Tôi nay vâng mệnh triều đình tìm kiếm hươu đem dâng vua, làm trọn phận bề tôi. Nếu anh linh xin được giúp đỡ. Quả nhiên đến cuối chiều, tin báo về có 2 con hươu sập bẫy. Quan huyện không quên tâu về chuyện Bà Triệu – Bà chúa thượng ngàn báo mộng, giúp đỡ, vua xuống chỉ cho dựng đền thờ, nay là đền Nưa, sắc phong bà làm thượng đẳng thần. Đền dựng xong, Cao Bá Đạt soạn bia ca ngợi công đức, ấy là vào năm Tự Đức thứ 3.
Vào những ngày này, đông đảo du khách đã tìm về Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Đền Bà Triệu, xã Triệu Lộc để chiêm bái, tưởng nhớ Vua Bà và chứng kiến một trong những nghi thức long trọng và quan trọng bậc nhất của di sản này: Lễ rước kiệu hay còn gọi là rước bóng. Đây là nghi lễ đặc sắc thể hiện rõ nhất “tính thiêng” hay quan niệm dân gian về sức mạnh của vị thần đã được các triều đại phong kiến suy tôn và thờ phụng. Ông Trương Hoài Nam, Phó Giám đốc Ban Quản lý Di sản Thành Nhà Hồ và các di tích trọng điểm tỉnh Thanh Hóa, khẳng định: “Lễ hội là dịp để du khách không chỉ tìm hiểu về con người và công lao của Bà Triệu, chiêm bái di tích quốc gia đặc biệt mà còn được trực tiếp trải nghiệm những giá trị văn hóa, sản vật tiêu biểu của xứ Thanh”.
Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu dù chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng đã có sức công phá mạnh mẽ. Cùng với chính sử, những truyền thuyết, huyền tích, thần tích, truyện kể dân gian về Bà Triệu còn được lưu giữ cho đến ngày nay, phần nào cho thấy sức sống mãnh liệt của hình tượng Bà Triệu trong tâm thức dân gian, hay nhận thức và tình cảm của Nhân dân. Để rồi, khi nhắc nhớ đến nhân vật lịch sử đầy sống động này, hậu thế luôn tự hào về truyền thống lịch sử, văn hóa mà cha ông ta đã dày công vun đắp n
(Bài viết sử dụng tư liệu trong sách: Anh hùng Dân tộc Triệu Thị Trinh và Khu Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Bà Triệu; Tuyển tập Truyền thuyết Thanh Hóa, NXB Thanh Hóa, 2018...)
Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/vua-ba-hien-linh-42916.htm











